HOA NGHIÊM BỒ TÁT THẬP GIỚI GIỚI TƯỚNG

Biên Soạn : Hòa Thượng THÍCH THIỆN TOÀN

1. Phổ nhiêu ích giới

2. Bất thọ giới

3. Bất trụ giới

4. Vô hối hận giới

5. Vô vĩ tranh giới

6. Bất não hại giới

7. Bất tạp giới

8. Vô tham cầu giới

9. Vô quá thất giới
10. Vô hủy phạm giới
Giới thiệu
Hỏi : Bồ tát là ai ?
Đáp : Bồ tát gọi là đại tâm chúng sinh, là những người như mình, nhưng có tâm hồn bao dung, vĩ đại. Cũng còn gọi là bậc giác giác hữu tình, tức là kẻ đi thức tỉnh chúng sinh, hay kẻ hiểu biết về chúng sinh, cũng có nghĩa là một kẻ như chúng sinh nhưng có sự hiểu biết giác ngộ, tỉnh thức, do đó đi giác ngộ kẻ khác.
Hỏi: như thế thì bồ tát và phật khác nhau?
Đáp: Bồ tát là nhân, Phật là quả. Nghĩa là muốn thành phật thì trước hết phải qua giai đoạn tu hạnh bồ tát.
Hỏi: tu hạnh bồ tát nghĩa là sao?
Đáp: nghĩa là tu vạn hạnh. Vạn hạnh có nghĩa là tất cả mọi công hạnh, chủ yếu là hạnh độ chúng sinh, do đó thường nói là lục độ vạn hạnh. Lục độ tức là 6 phương pháp tu hành: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
Hỏi: sáu phương pháp này có gì đặc biệt mà phải tu?
Đáp: sáu phương pháp đó có thể đưa ta tới bờ giải thoát, bờ giác ngộ. Do đó chữ độ có nghĩa là qua được bên kia, tới bờ bên kia. Chữ phạn gọi là paramita. Sau này kinh Hoa Nghiêm chủ trương thêm 4 độ nữa: phương tiện, đại nguyện, đại lực, đại trí. Bốn phương pháp này hợp lại với lục độ thành ra thập độ, trở thành căn bản của con đường tu vạn hạnh, hay con đương tu toàn diện.
Hỏi: giới là gì?
Đáp: Giới, dịch từ chữ phạn Sali, phiên âm là thi la. Ý là hành vi, tập quán,thói quen, tánh cách, đạo đức. Ví như thói quen xấu gọi là ác giới; thói quen tốt gọi là tịnh giới.
Hỏi: Vậy nguyên nghĩa chữa giới thì trung hòa, đâu phải chỉ có nghĩa tốt thôi ?
Đáp: Đúng vậy. Sau này người ta lại quen dùng tịnh giới để ám chỉ quy luật của người xuất gia và tại gia, nên lần lần giới mang ý nghĩa là quy tắc, quy luật nhiều hơn là thói quen, tư cách.
Hỏi: Công dụng chính của tịnh giới là gì?
Đáp: Công dụng là phong phi,chỉ ác, nghĩa là giúp ta đề phòng, tránh làm những điều sai lầm và dừng lại những điều xấu ác.
Hỏi: vai trò của giới như thế nào?
Đáp: Giới đứng đầu trong ba loại học để tới giải thoát vô lậu (tam vô lậu học) tức là giới, định, huệ. Giới là nền tảng phát triển định lực. Định là gốc của trí tuệ. Giới cũng chiếm vai trò cột trụ trong lục ba la mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,trí huệ.
Hỏi: sao gọi là bồ tát giới?
Đáp: Bồ tát giới là những tập quán thói quen của bồ tát, cũng có nghĩa là thói quen để trở thành bồ tát.
Hỏi: Vậy khi thọ bồ tát giới, nghĩa là ta..
Đáp:…hun đúc thói quen để trở thành bồ tát.
Hỏi: thói quen gì mà đặc biệt đến độ ta phải hun đúc, trao dồi, thì mới trở thành bồ tát chớ?
Đáp: thói quen đó không có gì đặc biệt đâu. Chúng chỉ có những thói quen vị tha, vô ngã khiến ta càng tập thì càng gần với chân tánh. Do đó nó gọi là tánh giới.
Hỏi: Thói quen vị tha vô ngã là gì? Sao quan trọng thế?
Đáp: Từ phàm phu lên tới phật, ta có thể đơn giản chia ra 4 loại tâm thức khác nhau: Tâm thức 1. vị ngã 2. vị tha 3. vô ngã và 4 bất nhị. Từ tâm thức phàm phu vị ngã, muốn tiến tới tâm thức cao nhất là Bất nhị, ta phải qua tâm thức vị tha và vô ngã.
Hỏi: Xin nói sơ về 4 tâm thức.
Đáp: Vị ngã là tâm thức ích kỷ, chỉ nghĩ tới mình; cả vũ trụ đang xoay quanh ta.
Vị tha là tâm thức vì người khác, ngĩ tới kẻ khác trước khi ngĩ tới mình; có lòng thương mến tha nhân, do đó biết hi sinh và phục vụ với tình thương.
Vô ngã là tâm thức vược ra ngoài chủ thể bản ngã nhỏ hẹp, cũng không bị hạn buộc trong đói tượng tha nhân; tâm rỗng rang nhưng lại bao dung từ bi; hoàn toàn ứng duyên phục vụ; động cơ phía sau mỗi hành động lời nói thì không còn phải suy tính gì về mình và người nữa.
Bất nhị là chân tánh tuyệt đối, siêu việt ra ngoài tâm thức, suy nghĩ, lý luận, ngôn ngữ của thế giới tương đối.
Hỏi: Như lý luận trên, phải chăng tôi” bắt buộc’’ phải thọ bồ tát giới thì mới thành phật?
Đáp: Câu hỏi cần sửa lại như sau: phỉa chăng tôi cần trao dồi thói quen bồ tát thì mới thành phật? Câu trả lời: đúng. Phải có thói quen và tâm thức bồ tát thì mới thành bồ tát, thành phật. không thể nào từ tâm thức vị ngã mà ta nhảy vọt lên an trụ trong tâm thức cứu cánh Bất nhị của phật được. Phải từng bước, tập tành thói quen của bồ tát mà tiến hóa lên trên. Thói quen này được phật tổng hợp và gói chém trong giới bồ tát vậy.
Hỏi: Như vậy, nếu tôi không thọ giới, nhưng học tập thói quen của bồ tát, tu tập theo tinh tinh thần của giới bồ tát, được chăng?
Đáp: Tất nhiên là được! Bởi vì chỉ vần bạn tập được thói quen bồ tát là đủ rồi.
Hỏi: Như vậy cần gì thọ giới…
Đáp: Ta cần nhìn vào lịch sử và triết lý bên sau sự thọ giới. Hồi xưa, tức là khoảng hơn 2,000 năm trở lại, phần lớn tín đồ thời đại phong kiến ít có cơ hội đi học, nên không uyên bác về giáo lý, không có phương tiện nghiên cứu; do vậy, họ nhờ vào sự giảng dạy của tăng đoàn. Xã hội phong kiến lấy trật tự kỷ luật và sự phục tòng làm giá trị căn bản để duy trì chế độ, do đó sự truyền đạo thường thường chỉ có một chiều: từ thầy truyền xuống, ít khi có giao hoán hai chiều. Vai trò của tập thể thường lấn át giá trị của cá nhân; cá nhân thường phải trung thành phục vụ tập thể. Do đó tạo thành tâm thức phục tùng cao độ. Đố với sự tu hành, không phải ai ai cũng tự giác, tự biết mình sai, tự mình sửa đổi; mà thường thường phải cần quy chế kỷ luật để nhắc nhở, để làm khuôn phép, để tuân theo. Đó là lý do khiến đạo khổng ngự trị dài lâu: vì nó cú trọng tới lễ nghi, khuôn phép, kỷ cương. Vì vậy, khi đạo phật lưu nhập trong bối cảnh thời đại đó, thì việc truyền giới, thọ giới trở thành một quy chế, kỷ cương. Và chỉ khi trở thành quy chế thì đạo phật mới dễ dàng khiến người thời đó tiếp thọ.
Nhưng đối với người ở mọi thời đại thì ai cũng có tham, sân, tà kiến, phiền não. Do đó, những gì giới luật dạy đều rất hợp lý và thật dụng. Nên nhớ rằng tâm thưc phong kiến đã ăn sâu trong lòng nhân loại hơn hai ngàn năm nay, nên ta không dễ gì rũ bỏ tâm thức ấy đâu! Nhất là nếu ta không có sức mạnh phản tỉnh, sưc mạnh nhìn xuyên điểm mù, thói tự giác tự tri e ta khó tự mình đánh bạt được tánh tham sân si. Trong trường hợp này mình nên thọ giới để đưa bản ngã vào khuôn phép, ngõ hầu dễ dàng tiến hóa.
Hỏi: Ồ như vậy tức là tôi phải thọ giới rồi, bởi vì tôi biết thói hư tật xấu sẽ dễ khiến tôi làm biếng!
Đáp: Đúng, thọ giới sẽ giúp ta tinh tấn hơn, vì mình cảm thấy mình cần giữ giới, giữ lời hứa với phật bồ tát. Thật ra, thọ giới còn có lợi là ta được trực tiếp đón nhận tinh thần của chư phật truyền xuống mình qua hình thức giới pháp.
Hỏi: như vậy, thọ giới tời nay và thời xưa, đâu có khác gì?
Đáp: Giống về hình thức, nội dung nhưng khác biệt về mặt tinh thần: xưa thọ giới nghĩa là thọ nhận và phụng trì. Nay, thọ giới nghĩa là thọ nhận, phụng trì, và cộng thêm việc học hỏi, hun đúc, tập tành thói quen mới, bước lên đường tiến hóa.
Hỏi: Tôi vẫn chưa rõ ý chỉ khác biệt?
Đáp: tinh thần xưa kia, xem giới là một kỷ cương mà ta phải gò mình vào, không được phá hủy; do đó người thọ giới luôn có tinh thần sợ hãi… sợ há giới thì đọa lạc. Ngày nay ta phải hiểu rằng: thọ giới là thọ nhận một sự giáo dục để giúp ta tiến hóa. Giới dạy những việc phù hợp với bản tánh sẵn có của ta; giới dạy những bước tất yếu để ta tiến hóa nhân sinh. Giới là ông thầy giáo dạy ta kiến thức về hành vi, lối sống, cách sinh hoạt ở những tầm tâm thức cao hơn.
Thọ giới để mà giữ giới; thì giới sẽ như bảo vật, đồng thời cũng như hàng rào, sẽ làm ta cảm thấy bị hạn chế ,ngẹt thở, rồi sinh sợ hãi khi hàng rò bị phá vỡ. Thọ giới là để học, để tâm thức tâm tánh, thì càng thọ trì ta càng học hỏi thêm điều mới lạ, có thêm thói quen tốt mới. Giới trở thành người thầy tốt nhất đời ta.
Hỏi: như thế tuy nói không bắt buộc thọ giới nhưng phải chăng tốt nhất là ta cần thọ giới?
Đáp: trươc hết ta nên thay đỏi quan niệm về thọ giới: càn tháy thọ giới là thọ nhận giáo dục khiến ta tiến hóa thì khi thọ giới mới đạt được tinh thần thâm áo của giới.
Giai tầng của tâm thức
Theo kinh hoa nghiêm, sự phát triển của tâm thức từ phàm phu lên đến phật có tất cả là 7 giai đoạn chính, goi là 7 giai đoạn tu chứng:
1. Giai đoạn tập sự, gọi là thập tín, tức mới bắt đầu trồng nhân bồ đề, phts khởi lòng tin tuyệt đối, nhưng vẫn còn là phàm phu, chưa nhập định.
2. Giai đoạn hiểu đạo, ai trụ vào chân lý, gọi là Thập Trụ.
3. Giai đoạn thực hành lý tưởng bồ tát đạo, gọi là Thập Hạnh
4. giai đoạn kháng đại đến viên mãn tâm thức là lý tưởng bồ tát, gọi là Thập Hồi Hướng.
5. Giai đoạn thập địa, tức là giai đoạn an trụ nơi thể tánh Bất Nhị, sống trong tam muội, nhưng hàm dung tự tại với thế giới nhị nguyên.
6. Giai đoạn đẳng giác, tức là giai đoạn viên dung tất cả mọi công hạnh, thành tựu tất cả mọi công đức, khai mở tất cả mọi tâm lượng, tự tại với tất cả mọi vũ trụ, dung nhiếp tất cả biển tâm thức.
7. Giai đoạn cứu cánh, tức là Diệu Giác, Phật. Đây là giai đoạn viên mãn cao tột, vượt hơn cả Đẳng giác, không còn một giới hạn nào nữa, hoàn toàn vô ngại. bao nhiêu công hạnh tự lợi, lợi tha, tự giác, giác tha đều hoàn thành, bao nhiêu hạnh môn, công đức, trí huệ, thần thông, diệu dụng đều viên mãn, vô cùng vô tận.
Nếu phân tích theo mặt phát triển của tâm thức, ta có thể đơn giản hình dung sự tiến hóa từ phàm phu ra bồ tát, ra phật qua 4 giai đoạn chủ yếu. Bốn giai đoạn này, gọi là bốn giai tầng tiến hóa của tâm thức, hoàn toàn phối hợp với 7 giai đoạn tu chứng của kinh Hoa Nghiêm. Như sau:
1. Giai đoạn vị ngã: tức là khi tâm thức còn lấy cái “tôi” làm trung tâm mọi suy tư, hành động, lối sống…
2. Giai đoạn vị tha: tức là khi tâm thức thay đổi chiều hướng, thay vì hướng về mình, bây giờ hướng về tha nhân trước. Sự thay đổi này nghĩa là tâm thức vị ngã đã mở rộng và chuyển hóa để bao hàm tha nhân.
3. Giai đoạn vô ngã: tức là khi tâm thức vị tha mở rộng và chuyển hóa, quên luôn bản ngã và tha nhân, siêu việt tới một trạng thái tự do tự tại có thể dung chứa được mình và người mà không chấp trước vào sự dung chứa đó.
4. Giai đoạn thể nhập Bất Nhị: tức là giai đoạn sống và thể nghiệm chân tánh Bất Nhị. Chư đại bồ tát, phật luôn ở trong tam muội, tức là an trụ trong chân tánh và không ngừng thị hiện trên trần gian để hóa độ chúng sanh.
Phàm phu chúng ta, ngay lúc còn vô minh mê muội, nhưng cũng có lúc ta chiêm nghiệm hoặc phát khởi những tâm thức như vị tha, vô ngã; hoăc ngay cả nếm được mùi vị Bất Nhị phật tánh. Điều khen chốt của người tu là ta có thể biến những sự thể nghiệm ấy thành cuộc sống thường nhật, để những đăc tính như vị tha, vô ngã trở thành bản tính tự nhiên của chính mình. Chư phật đặt ra bồ tát giới, chính là giúp ta mau chóng tiến vào con đường Bất Nhị, chuyển hóa tâm thức phàm phu vậy.
1. Phổ nhiêu ích giới
Thế nào là giới phổ nhiêu ích? Động cơ khiến bồ tát thọ trì tịnh giới là làm lợi ích tất cả chúng sinh
Giới thứ nhất gọi là giới phổ nhiêu ích.Phổ nghĩa là bao trùm, toàn diện, mọi mặt. Nhiêu ích nghĩa là lợi ích. Khi mình phát tâm giữ giới này tức là phát khởi tấm lòng muốn làm lợi cho tha nhân. Động cơ nghĩa là ý niệm đầu tiên, động lực đầu tiên thúc đẩy mình tu hành, giữ giới.
Giới này dạy mình hãy mở tâm, bắt đầu con đường tu hành bằng tâm thức vị tha, không phải vị ngã. Hệ quả của thọ trì giới này là khiến mình sẽ nghĩ tới làm lợi tha nhân trước khi nghĩ tới lợi ích tự kỷ.
Ngược lại với động cơ làm lợi tha nhân là xu hướng thọ trì giới luật hay tu hành chỉ vì tư lợi ích kỷ:
Động cơ tu hành khiến mình tu trì là vì muốn mình thành đạo, vãng sinh trước.
Tu vì muốn mình hơn người, muốn thành siêu nhân, phi phàm. Vì sao mình phải tu trì giới phổ nhiêu ích này? Vì nó là nền tảng để phát triển lòng từ bi, tạo thiện duyên với chúng sanh, mở rộng sự tu hành theo chiều ngang.
Tu hành giống như trồng cây: đát nhỏ thì cây không thể mọc cao, không thể xum xuê đặng. Cây trồng trong chậu không thể mọc thành cây cổ thụ. Tâm bồ đề thì cũng giống như cây cổ thụ, phải cần đất rộng, sâu dày, màu mở. Do đó, giới nhiêu ích này là giới căn bản của đạo bồ tát.
2. Bất thọ giới
Thế nào là bất thọ giới? bồ tát không thọ hành giới luật ngoại đạo. Tánh của bồ tát thì tinh tấn, phụng trì tịnh giới bình đẳng của chư phật như lai trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
Không thọ tức là không thọ nhận giới luật; không hành tức là không thực hành. Thọ thì thường phải có nghi thức, như lễ thọ giới; còn hành trì không cần thông qua nghi lễ.
Ngoại đạo có nhiều nghĩa: như kẻ cho rằng ngoại ở ngoài tâm, tu để được địa vị, tu để đạt cảnh giới; hoặc là những kẻ theo nhóm tà giáo (cult). Giới luật của tà giáo thường chỉ nhằm mục đích khống chế giáo đồ, không đưa tới giải thoát và giác ngộ, cũng không lấy bất nhị làm mục đích cứu cánh của sự hành trì.
Nói tóm: Thọ trì giới luật ngoại đạo tức là không hướng việc tu hành vào con đường Bất Nhị, không hướng tới cứu cánh.
Như vậy đặc tính của giới luật hướng tới bất nhị là gì? Là giới luật bình đẳng thanh tịnh. Bình dẳng nghĩa là ngay khi mình giữ giới, phàm phu và chư phật ngang bằng nhau, vì đều ó khả năng thể nhận phật tánh như nhau.
Tại sao phải hành trì Bất Thọ Giới? vì nó giúp mình giữ vững hướng tu, đào sâu chiều dọc của tâm thức, thẳng tiến tới phật quả, tới chân tánh Bất Nhị.
Bạn thử tưởng tượng, một khi mình lỡ học với tà giáo (cult), gia nhập tà đạo thì nào phải dễ dang thoát ly? Nhưng thử hỏi tà giáo có gì hấp dẫn khiến ta theo chăng? ở mức đọ thấp thì tà giáo thường hướng ta tới mục đích thỏa mãn dục vọng của bản ngã, giữ ta trong vòng tâm thức vị ngã; ở mức đọ cao hơn, tà giáo hứa hẹn những thần thông vi diệu, nhưng cũng xoay quanh tự ngã, không đưa tới sự hi sinh rốt ráo, phục vụ tha nhân.
Ngoại đạo
Vị sadhu trong hình thức là chánh đạo hay ngoại đạo? ta chỉ có thể biết được sau khi nói chuyện với ngài. Phân loại rằng mình là chánh giáo, người khác tín ngưỡng với ta là ngoại đạo, thì chỉ đưa tới phân tranh, chia rẽ. Nếu hiểu chữ ngoại đạo nghĩa là” cho rằng đạo, chân lý ở bên ngoài tâm” thì ta sẽ được tránh thái độ phê phán, chỉ trích, cho tôn giáo mình là nhất.
Những đặc tính của một nhóm tà giáo (cult)
1. Vị giáo chủ coa toàn quyền khẳng định hoặc phủ nhận giá trị nhân bản của người tín đồ; và y độc đoán sử dụng quyền này trong mọi lúc mọi chuyện
2. Mục tiêu chính của nhóm là một lý tưởng, một ý thức hệ, một sứ mạng mà không ai được quyền chất vấn.
3. Vị giáo chủ thâu giữ tín đồ bằng thủ đoạn tình cảm, tạo cho họ hy vọng hoặc sợ hãi.
4. Lằn ranh giới giữa nhóm và thế giới bên ngoài rất rõ ràng, cứng nhắt, độc đoán
5. Vị giáo chủ thường tự phong, tự tôn; phần lớn y là những kẻ không được huấn luyện, thọ giáo kỷ luật, nghiêm túc chỉ đạo bởi của một vị đại đạo sư nào cả
3. Bất trụ giới
Thế nào là bất trụ giới? khi bồ tát thọ thì tịnh giới, lòng ngài không dừng trụ nơi cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. vì sao? Vì ngài trì giới không phải là để sinh vào những chỗ đó.
Theo dõi tư tưởng của bồ tát giới, đầu tiên, mình phải phát triển chiều ngang tâm thức: mở lòng từ bi, khởi tâm phục vụ, qua giới Phổ Nhiêu Ích. Kế đến ta chọn pháp môn giúp đào sâu chiều dọc tâm thức, giúp ta trực chỉ, tiến thẳng vào cứu cánh Bất Nhị; tức là học giới Bất Thọ tà giáo ngoại đạo.
Không trụ nghĩa là không dừng trụ, không chấp chặt. Ví như không lấy chỗ nghỉ chân làm chỗ an trụ tối hậu; không chấp cứng vào một ý tưởng, một tâm thái, rồi hài lòng và nhận lầm đó là tâm thức tối cao Bất Nhị. Cũng không chấp trước vào một hoàn cảnh nào, sinh ra hài lòng, không muốn cầu tiến, không thể xả bỏ để tiếp tục tiến hóa.
Phật có đệ tử tục gia tên Nan Đà, đa văn, đa dục, yêu đắm một cô tên Tôn Đà La. Ngày nọ, phật dùng thần lực dẫn chàng dạo chơi cõi trời. Tới cung trời nọ thấy đầy thiên nữ, nhưng không có thiên nam. Lấy làm lạ chàng hỏi, thì cô thiên nữ trả lời:” chúng tôi đều có chủ rồi. Chủ chúng tôi là ngài Nan Đà, nhưng nay chưa tới ngự!” Nan Đà liền nói:” tôi chính là Nan Đà!” các cô nói rằng:” không phải, vì Nan Đà là tăng, thân đắp cà sa.” Nghe vậy Nan Đà liền xin phật xuất gia, quên phứt người yêu Tôn Đà La! Té ra, có người tu chỉ vì muốn hưởng khoái lạc ở cõi trên!
Tu hành tức là tiến hóa. Do đó, động lực cầu tiến thì tiềm tàng trong quá trình tu trì. Nhưng con đường từ phàm tới phật thì vô cùng dài lâu, nên ta rất dễ mỏi mệt, sinh nản chí hoặc muốn ngừng chân tạm nghỉ. Nhiều khi chỗ tạm nghĩ quá hấp dẫn khiến ta quên không bước tiếp. Bạn có bao giờ đi bộ lên tầng lầu 7 chưa? Đi lên lầu 1 thì nào có mệt đâu, nhưng đén lầu 3 chắc nên dừng chân nghỉ nêt chút xíu! Đi tiếp, nhiieuf khi không sức, nhưng ngừng tại lầu 3 thì lại không xong. Do đó, không quên mục tiêu tối hậu, biết mình phải tiếp tục bước tới là một nghệ thuật, cũng là sự tu hành. Khỗ nỗi là trên đường tu, ba trạm nghỉ chân chính quá hấp dẫn:
Trạm đầu tiên sẽ thỏa mãn dục vọng của thân xác ta: nào là đồ ăn ngon, chỗ ngủ nghỉ, giải trí khoái lạc vô cùng. Nó có tên là cõi dục, hay Dục Giới.
Trạm thứ hai sẽ làm mặt tâm lý và tinh thân ta an lạc và sung sướng cực điểm, bởi vì nơi đây thân xác ta chẳng còn hiện hữu làm trì trệ tinh thân ta nữa. Trạm này gọi là cõi sắc, hay sắc giới là cõi có hình bóng mà không có thân xác.
Trạm thứ ba sẽ khiến mình sung sướng vô tận vì khiến mình cảm thấy không còn trở ngại gì về tâm lý, tinh thần hay tâm linh cả. Trạm này gọi là cõi vô sắc hay Vô Sắc Giới.
Đối với bất thọ giới, nguy nan chính là giáo pháp tà đạo làm ta thấy lệch đường tu.
Đối với bất trụ giới, nguy nan chính là hoàn cảnh câu dẫn dục vọng, làm chân ta dính cứng không nhúc nhích, chẳng thể bước tiếp đường tu!

4. Vô hối hận giới?
Bồ tát lúc nào tâm cũng không hối hận. Vì sao? Vì ngài không phạm trọng tội, khong làm việc nịnh bợ gian dối, không phá tịnh giới.
Hối hận là tâm thái ray rức, do làm việc trái ngược với lương tâm. Khi làm mình, ít khi để ý thấy ngay hậu quả việc mình làm. Chừng khi xong rồi, mới biết sai lầm thì sinh ăn năn, hối hận, không mún tái phạm nữa.
Cảm giác hối hận là một cảm giác có thể sinh ra bệnh trầm cảm (depression) hoặc làm đau khổ, rối loạn cuộc sống. Kinh Niết Bàn có đoạn nói rằng: chính vì không muốn có cảm giác đau khổ, hối hận mà ta trì giới. Rồi do trì giới, sinh ra tâm hoan lạc và cuối cùng đạt tới Niết Bàn, chốn sung sướng cứu cánh nhất.
Trọng tội là tội nặng, không thể cứu vãng được: như tội giết người, hay ăn trộm đồ của thập phương thường trụ Tam Bảo, hoặc dâm đãng cướp chồng người. Nịnh bợ gian dối là vì có tâm ích kỷ muốn đạt, hoặc tâm sợ hãi muốn cầu an toàn, rồi từ đó sinh nảy thủ đoạn, không còn biết liêm sĩ, lễ nghĩa, làm việc trái quấy với lương tâm.
Giữ giới Vô Hối Hận tức là tập lắng nghe tiếng nói của lương tâm, để không bị cắn rức sau này. Giữ giới Vô Hối Hận tức là không làm những chuyện cực ác, những tội trạng nghiêm trọng. Giữ giới này tức là mình cần thay đổi lối sống, sao cho tâm được nhu hòa, dịu dàng hơn, lương tâm trong sáng hơn.
5. Vô vĩ tranh giới
Thế nào là vô vĩ tranh giới? bồ tát 1. không phủ nhận giới luật sẵn có, không đặt thêm giới mới. 2. Lòng ngài thường tùy thuận, hướng tâm vào giới luật đưa tới Niết Bàn. 3. Ngài thọ trì đầy đủ, không hủy phạm giới .4. Ngài không trì giới để gây phiền não, khiến họ đau khổ. Ngài trì giới luật chỉ vì mong muốn cõi lòng mọi người luôn luôn vui vẻ.
Vĩ nghĩa là ngược lại, phủ nhận, cho rằng sai lầm. Trang nghĩa là tranh cãi, đấu tranh, dằn co. Kinh văn đề cập tới 4 chuyện không nên phủ nhận:
1. Bất vĩ chế lập: tưc là không phủ nhận những giới luật đã được phật, chư tổ thiết lập ra từ xưa. Sau khi phủ nhận, thường người ta lại đặt ra luật mới. Điều này không được làm.
2. Bất vĩ Niết Bàn: tức là tâm không chống đối, phủ nhận, chối bỏ những giới luật đưa tới chứng đắc Niết Bàn. Ngược lại, kinh dạy ta phải tùy thuận với giới luật.
3. Bất vĩ luật nghi: tức là không phủ nhận giới luật, mà cần phụng trì đầy đủ, giữ gì nghiêm chỉnh những giới mình thọ.
4. Bất vĩ lợi vật: tức là trì giới như thế nào để không ngược lại với hạnh lợi ích chúng sanh, cũng không làm kẻ khác phiền não. Kinh còn đề cập tới việc dùng giới luật như một vũ khí để não hại chúng sanh.
Vĩ tranh hình dung tâm thái của một kẻ dữ dằn, khó chịu, đầy tranh chấp, không tự hài lòng với chính mình. Nên thường làm mất lòng người khác; không khẳng định bản tính tốt đẹp nơi mình, nên thường đi phủ nhận, hoặc xoi mói lỗi lầm, nói xấu kẻ khác. Khi con người đầy thói tiêu cực như vậy đi tu thì tính ấy sẽ khiến ta tiềm đủ lý do để phủ nhận giới luật, hoặc dùng giới luật đầy đọa tha nhân. Không những vậy, y ở chỗ nào, làm chuyện gì thì nhất định nơi đó, việc đó sẽ không được an ổn, tự tại.
Trong lịch sử đạo phật, một người điển hình luôn luôn vĩ tranh là ông Đề Bà Đạt Đa. Ông luôn tìm lỗi lầm của phật, phá rối tăng đoàn, gây chuyện với thầy này, xích mích với thầy kia, đặt bày thêm giới này giới nọ, làm xáo động tập thể.
Làm sao tu giới Vô Vĩ Tranh? Kinh dạy:” ngài trì giới luật chỉ vì mong muốn cõi lòng mọi người luôn luôn vui vẻ” Nghĩa là:
• Động cơ trì giới: vì lợi ích người khác mà ta trì giới; thiết thực nhất là đem lai niềm vui đến tha nhân.
• Thái độ trì giới: nếu mình trì giới mà cạu cọ, khó chịu thì đâu làm kẻ khác vui vẻ. Vậy nên, hãy vui vẻ trì giới.
Quan điểm về giới: thấy giới là phương tiện đưa tới Chân Tánh thì mới sinh lòng tùy thuận được.
Nếu ta chú ý tới các em trẻ; mình sẽ thấy rằng: một khi chúng phát tâm tu hành, các em rất thuần thành, tùy thuận với đạo, hòa hoãn với người xung quanh. Hun đúc một thái độ vui vẻ, tùy thuận dễ thương cũng chính là một cách thực hành giới Vô Vĩ Tranh vậy.
6. Bất não hại giới
Thế nào là bất não hại giới? bồ tát không lợi dụng giới luật để học chú thuật, chế tạo thuốc men, rroif não hại chúng sanh. Vì muốn cứu hộ tất cả chúng sanh mà ngài trì giới. Não nghĩa là gây khó chịu, buồn phiền, bất an, xáo động tâm lý. Hại là gây tổn thương, đau đớn. khổ sở nơi thân xác.
a. Giới đầu, phổ nhiêu ích giới, kinh dạy ta phải làm lợi ích gây thiện duyên.
b. Vô hối hận giới dạy: ngừng thói dữ dằn, lắng nghe lương tâm.
c. Vô vĩ tranh giới dạy chớ có thói tranh chấp tiêu cực, tập tánh nhu thuận.
d. Bây giờ, bất não hại giới dạy chớ có thói độc á thù hằn.
Đối tượng chính của giới là hai hạng người:
1. Hạng tâm thù hằn độc ác sâu nặng, chỉ nghĩ tới chuyện báo thù, do đó không từ nan bất kỳ thủ đoạn nào, miễn sao báo được thù thì mới hả lòng. Do đó, y xin xuất gia học đạo để có cơ hội học pháp, tu luyện bùa chú, chế tạo độc dược hại người, báo thù. Đây là hạng thù hằn, ác độc.
2. Hạng muốn đạt mục đích ích kỷ riêng tư nên cũng bất kể mạng sống và hạnh phúc kẻ khác. Như kinh kể chuyện một anh chàng nọ nghe rằng chư a la hán có thần thông chế ngự được rồng, do đó chàng ta đi xin xuất gia, trì giới, để học chú thuật trị rồng. Trong bách luận cũng có nói tới những kẻ ngoại đạo thường giết súc vật để tế thần, cầu cho mình được sinh lên trời. Giết vật, hại mạng để mình sướng là chuyện bồ tát không làm. Đay là hạng ích kỷ , ác độc.
Để đổi thói quen ác độc ích kỷ, đầy thù hằn, bồ tát thường quan sát tâm mình, thấy nỗi khổ người, sinh lòng tha thứ, rồi tìm cách giúp đỡ họ.
Đổi thù ra bạn là hạnh của bồ tát. Do vậy tu trì giới này là huân đúc tâm tánh để thành người bạn tốt; xác định con đường tu là con đường phục vụ.
Ba tâm thái ngược lai với tiến hóa ba giới luật hóa giải ba tâm
Ba giới: Vô hối hận, Vô vĩ tranh, Bất não hại, là ba giới có cùng gốc gác là đối trị tâm thái cực kì dữ dằn, đầy sân hận, độc ác. Có thể nói những đặc tính này có thể biểu hiện cực đoan của lòng sân hận. Kinh nói: “ chỉ một nệm sân hận mà nổi lên thì ngàn vạn chướng môn mở ra” .
7. Bất tạp giới
Thế nào là bất tạp giới? bồ tát không chấp vào cái nhìn thiên lệch, không trì giới tạp nhạp. Ngài chỉ quán xét duyên khởi và trì giới để xuất ly.
Tạp nghĩa là “giới chính, kiến tà” trì giới với quan điểm sai lầm. Vô số kiến giải tạp nhạp khiến mình không hướng vào được cứu cánh Bất Nhị, thì gọi là tạp. Cái nhìn thiên lệch, cực đoan tức là” biên kiến”. Cái nhìn này thường được hiểu là:
• Cái nhìn cho rằng vạn sự có thật, tồn tại (chấp hữu) hoặc vạn sự là không, chẳng tồn tại (chấp vô).
• Cái nhìn cho rằng thế giới vĩnh viễn trường tồn (thường kiến); hoặc vũ trụ không thật thể, nhân sinh không đáng sống, chết rồi là hết (đoạn kiến).
Có cái nhìn lệch lạc rồi lại cố chấp vào nó thì thành đại bịnh. Một khi chấp vào kiến giải thì ta dễ cho mình đúng, họ sai, dẫn ta tới bác bỏ và bài bác tất cả quan điểm khác. Nhưng từ đây tới lúc thành phật quan điểm, cái nhìn của mình sẽ thay đổi không ngừng. không những quan điểm, mà ngay thân xác này, cũng từ từ mỹ hóa để cuối cùng có 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp như phật; tâm thức phàm phu cũng chuyển biến thành trí huệ như lai. Do đó, kiến giải gì mình hiện đang có chắc chắn sẽ được thay thế bằng những kiến giải sâu sắc hơn, phản ánh rõ ràng hơn Chân Tánh và chân lý. Chính sự thay đổi cái nhìn và sự hiểu biết là điều kiện tất yếu của tiến hóa. Mà tiến hóa tức là ý nghĩa và nội dung căn bản nhất của tu hành.
Hai ngàn năm trước bên tây phương, ai cũng nghĩ rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. Lại có thuyết nói trái đất phản lì, như mặt hình vuông, không phải khối cầu. Cả ngàn năm sau kiến giải ấy mới được thay thế dần. 50 năm trước không ai tưởng tượng được con người có thể liên lạc chuyện trò với nhau trên internet như bây giờ… Nói cách khác: kiến giải của mình về vũ trụ cứ không ngừng tiến hóa. Cuộc sống và nhân sinh quan của mình cũng không ngừng biến đổi, chẳng có gì bất biến, mà sao mình cứ cố chấp?
Hãy đào sâu hơn về ý nghĩa của chữ biên kiến, hay là cái nhìn chênh lệch: Trong đạo phật, ngài long thọ dùng biện chứng không giả trung để người học đạo không ngừng thay đổi khiến giải, hết cố chấp, hết đóng khuôn. Biện chứng đó, giải thích theo ngôn từ hiện đại, nghĩa là:
Tâm thức ta có nhiều giai tầng. Tâm thức tầng trên thì bao trùm tâm thức tầng dưới. Cái nhìn từ tâm thức tầng trên thì bao trùm cái nhìn từ tâm thức tầng dưới.
1. Cái nhìn, kiến giải hoàn toàn đúng ở tầng dưới sẽ không hoàn toàn đúng ở tầng trên.
2. Khi chấp chặt vào một kiến giải, ta sẽ không tiến hóa, sẽ bị kẹt vào một tầng tâm thức nào đó, vì tạo ra cái nhìn thiên lệch về mọi sự quanh mình.
• Giai tầng càng cao thì càng rộng; như tâm thức giai tầng 2 thì rộng hơn tâm thức giai tầng một. Ví như: tâm bồ tát Thập Trụ thì rộng rãi hơn tâm bồ tát Thập Tín.
• Cái nhìn hoàn toàn đúng ở tầng tâm thức 1 thì không hoàn toàn đúng ở tâm thức 2 vì không phản ảnh được toàn diện tâm thức 2. Bồ tát thập tín thấy nhân sinh là khổ; bồ tát thập trụ biết nhân sinh là khổ, nhưng thể nghiệm được bản tính không, Bất Nhị của khổ, do đó ngài thấy cái khổ với bồ tát Thập Tín.
• Thưc hành: khi biết được sự tiến hóa của tâm thức như vậy, mình nên bớt cố chấp; ngược lại mở rộng cõi lòng, biết lắng nghe quan điểm khác mình, tìm cách dung nạp cái nhìn của kẻ khác và tránh thái độ mình đúng họ sai.
Quán duyên khởi nghĩa là thấy vạn sự đều biến chuyển, không đóng khuôn theo kiến giải của mình. Tập quan sát theo duyên khởi tưc là tập thấy mọi chuyện trong một bức tranh toàn diện, với nhiều khía cạnh, nhiều nhân duyên. Phật dạy quán duyên khởi là muốn ta đừng cố chấp, đừng đóng khuôn.
8. Vô tham cầu giới
Thế nào là Vô tham cầu giới? bồ tát không làm ra vẻ đặc biệt, khoe mình có đức. Vì mãn túc pháp xuất ly, nên ngài trì giới.
Tham là tâm hướng ngại, muốn thêm, muốn nhiều, không tự biết đủ. Cầu thì phải truy đuổi, đạt được mới thôi. Làm ra vẻ đặt biệt, khoe mình có đức là thủ đoạn để người cung kính, cúng dường mình. Pháp xuất ly là pháp thoát luân hồi sinh tử, chứng chân tánh Bất Nhị.
Trong khi ba giới Vô Hối Hận, Vô Vĩ Tranh, và Bất Não Hại đều là giới đối trị lòng sân hận dữ dằn thì giới Vô Tham Cầu này trực tiếp đối trị lòng tham lam thủ đoạn. Đối tượng của giới là cả người tại gia lẫn xuất gia. Kinh nói rằng lòng tham lam muốn hưởng thụ dẫn tới vô số lỗi lầm. Người tu, khi có thói ích kỷ, tham lam vật dục, thì sẵng sàng dùng mọi thủ đoạn tồi tệ. Như: làm ra vẻ thần bí, cao siêu, kỳ quặc; hoặc ra vẻ thân thiện với người giàu có, nhận làm bà con thân thuộc; hoặc dùng thủ đoạn nói khích để người ta chột dạ mà cúng dường; đôi khi lại lố bịch, thẳng thừng đòi người cúng dường; kinh đề cập tới chuyện khoe mình có đức, tức là khoe khang để người ta phục; những thủ đoạn như thế còn nhiều nữa, nhưng đại khái không ngoài tính chất ích kỷ, tự lợi.
Tinh thần chủ yếu của giới này là đối trị lòng tham cực kỳ ích kỷ. Tham lam ích kỷ đến đọ không từ thủ đoạn để đạt cho bằng được tham vọng. Vị kỷ là tầng tâm thức thấp nhất trong 4 tầng tâm thức ( vị kỷ, vị tha, vô ngã, bất nhị) mà ta cần phải xa rời để tiến lên. Do vậy, vì mãn túc pháp xuất ly, nghĩa là vì muốn rời giai tầng tâm thức vị kỷ này mà bồ tát phát tâm xuất gia.
Trong khi lòng giận dữ sân hận có thể dẫn tới hại người hại vật, lòng tham lam ích kỷ thì làm nặng gánh hành trang đường ta tu đạo. Người xưa dạy rằng: học đạo thì càng một giảm, học chữ nghĩa thì ngày một tăng. Giảm cho tới không còn chỗ giảm nữa thì mới gọi là đắc đạo. Nếu thấy rõ mục tiêu tự tại giải thoát, siêu nhiên vật dục là đặc tính chính của đường đạo, ta sẽ dễ dàng tu pháp xuất ly tâm thức vị kỷ này hơn.
9. Vô quá thất giới
Thế nào là giới vô quá thất? bồ tát không tự cống cao, nói rằng mình trì giới; khi gặp người phá giới thì cũng không khinh khi hủy báng khiến họ xấu hổ. Ngài chỉ nhất tâm trì giới.
Quá thất nghĩa là lỗi lầm. Kinh dịch, là bộ văn thư lâu xưa dạy đạo làm người quân tử, luôn chú trọng tới cách xử thế, dạy ta sống trên đời như thế nào mà không phạm lỗi lầm, lúc nào cũng đúng với chữ thời. Quẻ càn, có câu: kháng long hữu hối, nghĩa là con rồng (người quân tử) mà kiêu ngạo quá sẽ phạm lỗi lầm. Cống cao tức là cho mình hay, mình giỏi, mình đúng họ sai. Trong trường hợp của người trì giới thì lại tự thị nghĩ rằng mình trì giới nghiêm chỉnh nhất, hay nhất. Có khi thái độ cống cao được biểu lộ qua hành động tự vỗ ngực, tự lớn tiếng quảng cáo mình hay giỏi. Nhiều lúc, sự cống cao ấy lại biểu hiện qua hành động ta chê bai, khinh khi kẻ khác, gián tiếp khẳng định mình giỏi hơn người. Do vậy, kinh dạy: khi gặp người phá giới thì cũng không khinh khi hủy báng khiến họ xấu hổ. Khi ta cảm nhận sự đau khổ, cắn rứt của người phạm giới, ắt hẳn mình không muốn cho họ thêm cắn rứt, thêm đau khổ, thêm hổ thẹn. Nên lúc ta có khả năng nhạy cảm, khả năng rung động với nỗi niềm vui buồn của tha nhân, ắt hẳn ta sẽ cởi mở cõi lòng hơn, và do đó, giảm thiểu vô số thói xấu ích kỷ, tự cao. Thật vậy, nếu ta nhìn lại những giới nêu trên, giới nào cũng chỉ hóa giải khuyết điểm của tâm thức vị kỷ.
Ngài chỉ nhất tâm trì giới có nghĩa là thái độ khi mình trì giới, chỉ cần chú tâm vào giới, vào pháp là đủ, không cần phải so sánh mình với ai khác. Còn động cơ để mình thọ giới, trì giới phải là vì lợi lạc cho chúng sinh thì mới siêu thoát được tâm thức vị kỷ.
10. Vô hủy phạm giới
Thế nào là Vô Hủy Phạm giới? bồ tát vĩnh đoạn sát, đạo, tà dâm, nói dối, nói hai chiều, nói thô ác, nói lời vô nghĩa, tham sân, tà kiến; thực hành đầy đủ mười thứ thiện nghiệp. khi bồ tát giữ giới này, ngài suy tư như vậy:” những ai hủy phạm tịnh giới đều do điên đảo; chỉ có phật thế tôn là người biết rõ chúng sanh vì nhân duyên gì mà sinh điên đảo, hủy phạm tịnh giới. Tôi sẽ thành tựu tuệ giác vô thượng, thuyết pháp chân thật khiến chúng sanh hết còn điên đảo”.
Vô Hủy Phạm tức là không cố ý làm hư hại, cố ý phạm giới. Mười giới là những nghiệp căn bản nhất trong đạo làm người: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, nói hai chiều, nói lời thô ác, nói lời vô nghĩa, tham lam, sân hận, tà kiến.
Đây là đoạn kinh văn quan trọng nhất trong bồ tát giới, bởi vì nó nói lên nguyên nhân chúng sanh phạm giới: điên đảo. Điên đảo có nghĩa là không nhận ra bản lai diện mục, là nhận giặc làm con, là nhận giả là thật, là hoàn toàn mê muội nhưng cho là hiểu biết. Giống như một người đang đi trên đường, đột nhiên sương tuyết mù mịt sa xuống, chụp trùm bốn phương; lúc đó người ấy sẽ mất phương hướng, quờ quạnh bước đi. Đó chính là tình trạng của chúng sinh, điên đảo mờ mịt.
Giả sử có người rành đường đi nước bước, từng kẹt trong sương tuyết, bây giờ đang ở chỗ quang đãng, hẳn người ấy biết làm sao để điện thoại vào, dắt dẫn người bị kẹt trong sương tuyết từ từ bước ra, thoát nạn. Cũng vậy, khi ta ở trong vòng mê muội thì không làm sao biết được mình mê vì sao, tối tăm ở chỗ nào. Phật như là kẻ đã ra khỏi vòng mê muội, nên ngài vô cùng sáng tỏ cảnh giới của chúng sanh. Do đó kinh nói: chỉ có phật thế tôn là người biết rõ chúng sanh vì nhân duyên gì mà sinh điên đảo, hủy phạm tịnh giới.
Nói cách khác, lý do chúng sinh hủy phạm giới luật là vì điên đảo, Vì sao điên đảo? vì không giác ngộ; tức là chỉ có giác ngộ mới là câu trả lời. Giác ngộ thì chấm dứt mê muội điên đảo.
Như vậy giới bồ tát đặt ra chỉ vì để giúp ta giác ngộ Chân Tánh, không phải là để hạn chế tự do hay ràng buộc ta vào một thứ giáo điều đóng khuôn. Giới bồ tát giúp ta tránh hun đúc những thói hư tật xấu trái nghịch lại với động năng tiến hóa thẳng tới Bất Nhị. Nếu chúng ta thôi thúc bởi lòng cầu đạo, bởi tâm ý vị tha, thì tự nhiên giới luật trở thành kim chỉ nam quý báo mà ta chẳng cần phải gò mình khép nép thọ giữ. Bồ tát giới sẽ làm ta thấy tự tại hơn vì tất cả những động cơ vị ngã từ từ phai nhạt dần trong tâm thức ta, để nhừng lại cho bầu trời vị tha bao trùm cuộc sống. Trì giữ bồ tát giới sẽ làm ta càng ngày càng tỉnh thức thật sự, không còn bị thôi thúc bởi lòng vị kỷ nhỏ hẹp, mà mở rộng cõi lòng và tình thương nối kết muôn người. Trì giữ bồ tát giới sẽ không còn là một sự khó khăn, mà là một hạnh phúc khai mở trong từng giây phút của cuộc sống.