THÍCH TỪ Ý
( 1919 – 1990 )
Sớm kết duyên cùng Tam Bảo, mười sáu tuổi Bính Tý (1936), Ngài theo học Phật pháp với Thượng tọa Thích Như Đào-tọa chủ chùa Tế Nam, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Năm Canh Dần (1950), Ngài đến đảnh lễ xin xuất gia với Hòa thượng Tăng cang Thích Tôn Thắng tại chùa Phổ Thiên (nay là chùa Phổ Đà, thành phố Đà Nẵng). Trong quá trình tu học tại đây, Ngài được Đức Tăng cang hết lòng thương mến, ban cho pháp danh Tâm Niệm
Năm Giáp Ngọ (1954), rời Đà Nẵng, Ngài về Tam Kỳ tu học tại chùa Tịnh Độ, kế đến trú tại chùa Minh Hương do hội người Hoa tại Tam Kỳ sáng lập. Hai năm sau, Bính Thân (1956), Ngài đến xây dựng cơ sở chi hội Phật học Tam Kỳ (tức là Hội quán Phật học Tam Kỳ, ngày nay là chùa Hòa An).
Trong suốt cuộc đời hành đạo, Hòa thượng đã đem hết tâm lực, trí lực và sức lực phục vụ cho Giáo Hội. Năm 1960, Ngài đảm trách sứ mệnh phát triển chi hội Phật học Tam Kỳ, đã tạo tiền đề cho quá trình lớn mạnh của Phật giáo huyện Tam Kỳ và các huyện lân cận sau này.
Năm Đinh Tỵ (1977), nhận lãnh chức vụ Chánh đại diện Phật giáo huyện Tam Kỳ. Ngoài ra, Ngài thường âm thầm thực thi những Phật sự trọng yếu khác vào những thời điểm khó khăn và cần cấp như: dự phần tổ chức Đại giới đàn tại chùa Long Tuyền, Hội An (1984), mở Phương trượng Giới đàn truyền giới Sa Di tại chùa Hòa An (1988) v.v…Tất cả Phật sự với Ngài đều là sứ mệnh Như Lai nên trước hay sau, thuận hay nghịch duyên, Hòa thượng đều không nề hà mệt mỏi và chùn bước.
Năm Nhâm Tý (1972), tại quê cha đất tổ huyện Núi Thành, Hòa thượng khai sơn xây dựng chùa Hưng Quang, xã Tam Xuân; cùng năm, khai sơn chùa Lộc Tân, xã Tam Tiến, dựng tượng Phật Thích Ca tại Thiên Long Thạch Động (chùa Hang, xã Tam Nghĩa) và tượng Quan Thế Âm Bồ Tát tại đập Bà Quận.
Thương tưởng hàng nữ xuất gia thiếu nơi tu tập, năm Giáp Dần (1974), Hòa thượng khai sơn xây dựng
chùa Sư nữ Diệu Quang, phường Hòa Hương, Tam Kỳ. Sau khi khai sơn, Hòa thượng đã mời Ni trưởng Thích Nữ Diệu Trí tại Ni trường Diệu Đức-Huế vào đảm nhận trụ trì tiếp độ nữ giới tại tỉnh Quảng Tín.Trên đường hóa duyên phương Nam, năm Bính Dần (1986), Ngài khai sơn xây dựng chùa Phước Quang tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau ngày đất nước thống nhất, Ngài còn hổ trợ tu bổ cho cho một số chùa chiền bị hư hoại bởi chiến tranh tại các vùng nông thôn Quảng Nam.
Bất từ bì quyện tiếp chúng độ Tăng, linh chánh lý thời thời quảng bá
Vô tích gian lao lợi sanh hoằng đạo, tỷ pháp luân xứ xứ xương minh.
Không nề nhọc mỏi, tiếp chúng độ Tăng khiến chánh lý luôn luôn truyền bá.
Chẳng quản nhọc nhằn, lợi sanh truyền đạo cho pháp luân mãi mãi xương minh.
Thuận lý vô thường, thân tứ đại trả về tứ đại, duyên sanh đã mãn, hoằng hóa đủ đầy, lão bịnh tử thong dong thọ nhận, mùa Đông năm 1989, Ngài lâm trọng bệnh. Vào lúc 1 giờ 25 phút ngày 21 tháng 7 năm Canh Ngọ (9-9-1990), tại chùa Hòa An, Ngài dự tri thời chí, chuẩn bị hành trang sẵn sàng cho cuộc ra đi vĩnh viễn, Ngài bảo đồ chúng đở ngồi dậy rồi an nhiên hòa tiếng niệm Phật cùng tứ chúng đệ tử, ngay đó thâu thần thị tịch trong tư thế kiết tường, thọ 72 tuổi đời, tròn 30 hạ lạp.
Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng đã đi 2 câu đối tán thán công đức của Ngài như sau:
Từ tâm mẫn niệm hậu lai, đệ tử vĩnh hoài ân hóa dục
Tạm dịch:
Từ tâm thương nghĩ hậu lai, Đệ tử mãi ghi ân hóa dục
Ý chí dốc theo tiên huấn, Tăng già luôn nhớ đức đề huề.
Bảo tháp Ngài được kiến tạo trang nghiêm trong khuôn viên chùa Từ Quang, thị xã Tam Kỳ, nơi mà Ngài đã dày công kiến tạo.

Hòa Thượng Thích Thiện Duyên nói pháp Khai Thị lần cuối

Hòa Thượng bảo chúng đệ tẻ nâng Ngài ngồi dậy để Ngài cảm ơn HT THích Thiện Duyên đã nói bài pháp VÔ THƯỜNG _ KHỔ _ KHÔNG _ VÔ NGÃ


Hòa Thượng Bái Biệt Đệ tử và chúng hội ra đi











