HAI THỜI CÔNG PHU
Biên Soạn Thích Thiện Toàn
Ý NGHĨA HAI THỜI CÔNG PHU
Công phu là một việc làm có sự đầu tư nhiều thời gian, công sức và tâm lực để tạo ra những thành quả lao động có tác dụng làm thay đổi bản chất, hình thể hoặc vị trí của đối tượng lao động. Thành quả lao động tạo ra được trong hai thời công phu của người xuất gia là làm chuyển hóa tâm linh. Đó là chuyển giải đãi thành tinh tấn, chuyển hôn trầm thụy miên chánh niệm khinh an, chuyển phóng dật thành bất phóng dật, chuyển thô tháo, trạo cử thành nhẫn nhục, kiên trì. Thường tình, người xuất gia ban đầu rất siêng năng tinh tấn, chuyên cần hành đạo, công phu, bái sám, nhưng dần dần về sau lại sinh tâm lười biếng, buông lung, xao lãng đạo tâm, đua đòi thế sự, chạy theo ngũ dục, nên người xưa đã có nhận định phê phán tâm lý ấy qua hình ảnh của người học đạo theo kiểu “nhứt niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên bất kiến Phật”.
Nhằm mục đích thúc liễm sơ tâm của người mới xuất gia học đạo, trợ duyên cho việc đoạn trừ tâm lý giải đãi buông lung, các Tổ sư xưa đã chọn lọc trích ra những bài kinh có nội dung nói lên chí nguyện của người xuất gia và có trường độ vừa phải thích nghi với hai thời khóa tụng buổi sáng và buổi chiều tập hợp lại làm thành hai thời công phu để giúp cho những hành giả sơ tâm không quên chí nguyện và phận sự của mình.
Chí nguyện của người xuất gia là “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh” đã được trình bày một cách rõ rng và nhất quán ở trong hai thời công phu.
Cầu Phật đạo tức là phát tâm mong cầu chứng đắc quả vị vô thượng bồ đề bằng cách:
– Phát hiện tuệ giác vô thượng bồ đề sẵn có của mình.
– Phát khởi chí nguyện mong cầu thể nhập tuệ giác ấy.
– Phát huy nguồn tuệ giác ấy đến chỗ hoàn toàn viên mãn.
Hóa độ chúng sinh tức là thấy chúng sinh trầm luân trong biển khổ sinh tử, với tâm từ bi bình đẳng, vận dụng các thứ phương tiện cứu vớt những chúng sinh ấy ra khỏi cảnh giới khổ đau. Đây là hạnh tự lợi, lợi tha của của hành giả phát tâm xuất gia tu tập theo giáo pháp đại thừa. Tu hạnh đại thừa là không những chỉ làm cho bản thân mình chấm dứt sinh tử, thành tựu niết bàn mà còn phải có lòng vị tha, đem từ bi và trí tuệ giác ngộ hóa độ tất cả chúng sinh, như ngài A Nan đã phát nguyện trong kinh Lăng nghiêm: “nguyện kim đắc quả thành bảo vương, hoàn độ như thị hằng sa chúng”.
Ngoài ra, nội dung hai thời công phu còn đề cập đến việc cầu sinh tịnh độ, tức là cầu mong sau khi chấm dứt báo thân này thì được vãng sinh về thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà. Thật ra điều này cũng chỉ là thể hiện sự mong cầu được phát hiện và phát huy tuệ giác vô thượng bồ đề ở trong một thế giới có môi trường và điều kiện tu tập thuận lợi để việc hoàn thành tuệ giác ấy được dễ dàng, chắc chắn và nhanh chóng hơn. Sau khi đã chứng thành tuệ giác bồ đề ở thế giới Cực lạc, hành giả lại không quên bản nguyện trở lại thế giới Ta bà ngũ trược này để phương tiện hóa độ chúng sinh. Thậm chí hành giả còn có tâm nguyện kiến lập một cảnh giới tịnh độ an lạc ngay nơi thế giới ta bà ngũ trược này. Như vậy, mục đích cầu sinh tịnh độ cũng chính là mục đích thượng cầu hạ hóa mà thôi.
Thời công phu sáng có mục đích nhắc nhở hành giả nhớ đến chí nguyện mong cầu tuệ giác của mình để suốt ngày hôm ấy bất kỳ mọi hành vi cử chỉ nào trong sinh hoạt tu tập cũng đều phát tâm hướng về chí nguyện này. Trở ngại lớn nhất của chí nguyện mong cầu tuệ giác vô thượng bồ đề là ma chướng. Nó xuất hiện dưới nhiều hình thức như thiếu thốn, tật bệnh, tai nạn, nghịch cảnh đó là những chướng duyên bên ngoài, nhưng ma chướng lớn nhất vẫn là những nội chướng trong tâm như vọng tưởng, tham dục. Thọ trì thần chú Lăng nghiêm, Đại bi, mười phẩm chú và chú Bát nhã tâm kinh là để nguyện nhờ tha lực của tam bảo và long thiên, hộ pháp hổ trợ cho chí nguyện tu tập được tinh tấn, vững bền. Sau phần trì chú, đến phần phát nguyện, niệm Phật, hồi hướng; tất cả đều có mục đích nhắc nhở việc giữ gìn và làm tăng trưởng chí nguyện mong cầu tuệ giác. Cuối cùng, khóa lễ được kết thúc bằng ba bài kệ Tự quy y là để nói lên sự trở về với bản tánh Giác, Chánh, Tịnh sẵn có của chính mình, cũng đồng thời là để khẳng định lập trường của quan điểm nhận thức tâm có bồ đề, tâm là bồ đề.
Thời công phu chiều có mục đích hồi hướng các Phật sự làm được trong ngày về trang nghiêm cõi tịnh độ Cực lạc. Tụng kinh A Di Đà để biết về hoàn cảnh sinh hoạt, cảnh quan môi trường, văn hóa phong tục, điều kiện cư trú của thế giới Cực lạc. Sám Hồng Danh là để diệt trừ tiền khiên oan trái, nghiệp chướng lâu đời, tịnh hóa thân tâm, để làm tư lương cho việc tu tịnh nghiệp. Văn Thí thực là nói lên lòng từ bi thương tưởng đến các loài chúng sinh đang sống trong cảnh thống khổ, lầm than, cơ nhỡ, thiếu thốn. Các phần còn lại như phát nguyện, niệm Phật, hồi hướng, tự quy y cũng có ý nghĩa giống như của thời công phu sáng nói trên.
Có thể nói nội dung của hai thời công phu thể hiện được hai nhân tố tất yếu không thể thiếu đói với việc thực hiện thành công chí nguyện mong cầu tuệ giác vô thượng bồ đề của người xuất gia đó là từ bi và trí tuệ. Thời công phu sáng có mục đích trợ duyên cho hành giả tăng trưởng tâm chí mong cầu tuệ giác, phát sinh trí tuệ, đoạn trừ ma chướng. Thời công phu chiều có nội dung nuôi dưỡng từ tâm, thương tưởng đến các loài hữu tình đang chịu thống khổ trong tam đồ lục đạo mà dụng phương tiện cứu giúp cho họ thoát cảnh đói khát khổ sở, phát tâm bồ đề tu tập công đức để được sinh về thế giới an lạc, hạnh phúc. Đặc biệt hai thời công phu còn có tác dụng cảnh tỉnh đạo lý vô thường cho nhân sinh để cho người đời sớm từ bỏ lầm mê, lánh xa tham dục, hướng về nẽo thiện, chuyển hóa tâm linh, xây dựng cuộc sống thành chân thiện mỹ, như ni sư thi sĩ Ngọc Vân đã nói: “xoa tan tục lụy hồi chuông sớm, gõ nát trần tâm tiếng mõ khuya”.
Công phu đã là hai thời khóa tụng của người xuất gia thì làm người xuất gia chúng ta không nên chểnh mảng, lơ là, thiếu sót. Khi thực hành thời khóa công phu phải chú tâm chánh niệm quán chiếu mục tiêu ý nghĩa của công phu là nuôi dưỡng từ tâm, phát triễn trí tuệ, luôn luôn có tâm niệm tha thiết đối với chí nguyện thượng cầu hạ hóa. Nhờ sự nhứt tâm và tinh tấn như vậy mà mọi ma chướng của ngoại cảnh, nội duyên sẽ được khắc phục, vững bước trên con đường lý tưởng giác ngộ, giải thoát bằng những bước đi chân cứng đá mềm. Nếu ai chuyên cần trì tụng, thông hiểu nghĩa lý, hành trì tu tập, vận dụng vào những sinh hoạt hằng ngày theo đúng mục tiêu ý nghĩa của hai thời công phu như đã nói trên thì có thể nói đời sống tu hành của một người xuất gia như thế cũng đã đầy đủ lắm rồi.
Hai thời công phu vì thế đã trở thành sinh hoạt truyền thống trong chốn thiền môn mà những người sơ cơ học đạo không được xao lãng, xem thường.
CHƯƠNG I:
THỜI CÔNG PHU SÁNG
BÀI TỰA CHÚ LĂNG NGHIÊM
Chánh văn:
南無楞嚴會上佛菩薩 nam mô lăng nghiêm hội thượng phật bồ tát
妙湛總持不動尊 diệu trạm tổng trì bất động tôn
首楞嚴王世希有 thủ lăng nghiêm vương thế hy hữu
銷我億劫顛倒想 tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng
不歷僧祈獲法身 bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân
願今得果成寶王 nguyện kim đắc quả thành bảo vương
還度如是恆沙眾 hoàn độ như thị hằng sa chúng
將此深心奉塵剎 tương thử thâm tâm phụng trần sát
是則名為報佛恩 thị tắc danh vi báo Phật ân
伏請世尊為證明 phục thỉnh Thế tôn vị chứng minh
五濁惡世誓先入 ngũ trược ác thế thệ tiên nhập
如一眾生未成佛 như nhứt chúng sanh vị thành Phật
終不於此取泥洹 chung bất ư thử thủ nê hoàn
大雄大力大慈悲 đại hùng đại lực đại từ bi
希更深除微細惑 hy cánh thâm trừ vi tế hoặc
令我早登無上覺 linh ngã tảo đăng vô thượng giác
於十方界坐道場 ư thập phương giới tọa đạo tràng
舜雅多性可銷亡 thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong
爍迦羅心無動轉 thước ca ra tâm vô động chuyển
Giải thích từ ngữ:
– Thủ lăng nghiêm: phiên âm của chữ surâmgama, còn được phiên âm là thủ lăng già ma, nói tắt là lăng nghiêm, có nghĩa là kiện tướng hay kiện hạnh, là tên của một loại tam muội của Phật có năng lực vững chắc, không bị phá hoại bởi bất cứ thứ gì.
– Diệu trạm: thanh tịnh, trong sáng, vi diệu. Diệu trạm là một nghĩa của pháp thân Phật.
– Tổng trì: dịch nghĩa của chữ đà la ni (dhâlani) trong tiếng Phạn, là niệm lực tổng nhiếp và hộ trì bao trùm tất cả Phật pháp.
– Bất động: không thay đổi, không lay động.
– Kiếp: đơn vị dùng để đo thời gian lâu dài, có ba hạng: tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp.
+ Tiểu kiếp: thời gian khi loài người có tuổi thọ cực đại là 84.000 tuổi, cứ 100 năm giảm 1 tuổi, giảm đến khi thọ mạng con người chỉ còn 10 tuổi là cực tiểu. Rồi lại cứ 100 năm tăng thêm 1 tuổi, tăng mãi cho đến khi thọ mạng cực đại 84.000 tuổi. Khoảng thời gian tuổi thọ tăng – giảm – tăng ấy là một tiểu kiếp.
+ Trung kiếp: 1 trung kiếp bằng 4 tiểu kiếp.
+ Đại kiếp: 1 đại kiếp bằng 4 trung kiếp. Một đại kiếp tương ứng với một chu kỳ thành, trụ, hoại, không của thế giới. Mỗi trung kiếp của một đại kiếp tương ứng với một công đoạn của chu kỳ ấy.
– Điên đảo: nhận thức sai lầm, đảo ngược sự lý, do vô minh vọng tưởng sinh ra, có ba thứ:
+ Tưởng đảo: phi lý tác ý về đối tượng nhận thức.
+ Kiến đảo: tà kiến. Chấp các giới điều, tín điều cực đoan sai lạc, không phù hợp lý nhân quả, không đúng với thực tiễn cuộc sống, cho đó là phương pháp tu hành đạt đến giải thoát, an lạc có hiệu quả tốt hơn hết.
+ Tâm đảo: biến kế sở chấp. Chấp các pháp duyên sinh vô tánh là thật có. Do điên đảo mà vô thường cho là thường, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là tịnh, khổ cho là vui.
– Tăng kỳ: nói đủ là a tăng kỳ, là phiên âm của chữ asamkhya trong tiếng Phạn, có nghĩa là vô số, không thể đếm được. Cũng có chỗ nói 1 a tăng kỳ bằng 1047 đơn vị số đo.
– Pháp thân: thân làm bằng pháp (dharmakâya). Pháp là chánh pháp của Phật, tức là chân lý. Chân lý thì vượt ngoài thời gian và không gian, nên pháp thân cũng không hạn cuộc trong thời gian không gian. Theo pháp tướng duy thức tông, pháp thân có hai hình thức là tổng tướng và biệt tướng. Tổng tướng pháp thân là lý như như, tức chân như sở chứng và trí như như, tức chân giác năng chiếu của Phật. Biệt tướng pháp thân là tự tánh thân trong ba thân, tức tự tánh chân như thường trú tịch tĩnh trong pháp giới. Theo tánh tông thì tánh tướng bất nhị, nên pháp thân tức là pháp tánh chân như của tất cả các pháp.
– Hằng sa: cát của sông Hằng, nói đủ là hằng hà sa số, nhiều như cát sông Hằng, chỉ cho số nhiều không thể đếm được.
– Thâm tâm: tâm tha thiết mong cầu tuệ giác bồ đề. Theo kinh Duy ma, có ba tâm: thâm tâm là tâm cầu bồ đề, trực tâm là tâm có bồ đề, bồ đề tâm là tâm là bồ đề.
– Ngũ trược ác thế: trong kiếp trụ, loài người phải sống trong năm thứ ô trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược:
+ Kiếp trược: đời sống ô trược do bốn thứ trược dưới đây tạo thành.
+ Kiến trược: ác kiến phủ khắp thế gian hoành hành lung lạc khuynh đảo chân lý.
+ Phiền não trược: tất cả phiền não, trừ ác kiến (bao gồm năm kiến hoăc), khởi lên làm cho thế giới trở thành ô trược.
+ Chúng sinh trược: quả báo của kiến trược và phiền não trược.
+ Mạng trược: mạng sống giảm thiểu sau kiếp trụ, một thuộc tính của mạng trược.
– Nê hoàn: phiên âm của chữ nirvana trong tiếng Phạn, còn có phiên âm khác là niết bàn, có nghĩa là tịch diệt, diệt độ, an lạc, vô vi.
– Vi tế hoặc: hoặc là phiền não gồm có hai loại là kiến hoặc và tu hoặc, vi tế hoặc thuộc tu hoặc nhưng còn ở dạng chủng tử tùy miên rất khó đoạn trừ, phải đến địa vị Bồ tát đệ bát bất động địa tu quán pháp không mới lần lược đoạn trừ.
– Thuấn nhã đa: phiên âm của chữ sunnyata trong tiếng Phạn, có nghĩa là hư không. Thuấn nhã đa tánh là tánh của hư không. Tánh của hư không là không sinh diệt, không lay động, không chướng ngại.
– Thước ca ra: phiên âm của chữ karvada, còn được phiên âm là chước ca la, chước yết la, có nghĩa là núi Thiết vi, chỉ cho sự vững chắc, còn có nghĩa là kim cương luân, là tinh tấn. Thước ca ra tâm là tâm tinh tấn, một trong 11 tâm sở thiện.
Dịch nghĩa:
Kính lạy chư Phật và chư vị Bồ tát trong pháp hội Lăng nghiêm.
Đức diệu trạm tổng trì bất động
Thủ Lăng nghiêm hiếm có trong đời
Giúp con trừ điên đảo muôn đời
Chứng pháp thân không qua nhiều kiếp
Con nay nguyện chứng thành quả Phật
Độ chúng sinh như cát sông Hằng
Khắp mười phương cõi nước vi trần
Đem tâm ấy báo đền ơn Phật
Xin Thế Tôn chứng minh thương tưởng
Đời ngũ trược con nguyền vào trước
Còn chúng sinh nào chưa thành Phật
Con thề không riêng nhập niết bàn
Đấng đại bi, đại lực, đại hùng
Giúp con trừ sạch vi tế hoặc
Cho con được sớm thành chánh giác
Lập đạo tràng ở khắp mười phương
Tánh hư không có thể tiêu vong
Tâm tinh tấn nguyền không lay chuyển.
Đại ý:
Nhân việc Tôn giả A Nan bị Ma Đăng Già nữ dùng thần chú của tiên nhân ngoại đạo Ca Tì Ta La làm mê hoặc gần mất giới thể, được Phật sai Bồ tát Văn Thù đem thần chú Lăng nghiêm đến giải cứu đem về tinh xá Kỳ viên. Ở đây, sau khi A Nan được Phật thuyết pháp chỉ cho thấy được chơn tâm thường trú, thể tánh tịnh minh của mình, Tôn giả cảm kích ân đức hóa độ của Phật nên đã nói bài kệ trên để bày tỏ sự phát bồ đề tâm dũng mãnh, tinh tấn tu hành và phát tâm từ bi cứu độ chúng sinh ra khỏi sinh tử luân hồi.
QUY KÍNH TAM BẢO.
Chánh văn:
南無常住十方佛 nam mô thường trú thập phương Phật
南無常住十方法 nam mô thường trú thập phương Pháp
南無常住十方僧 nam mô thường trú thập phương Tăng
南無釋迦牟尼佛 nam mô Thích ca mâu ni Phật
南無佛頂首楞嚴 nam mô Phật đảnh thủ lăng nghiêm
南無觀世音菩薩 nam mô Quán thế âm bồ tát
南無金剛藏菩薩 nam mô Kim cang tạng bồ tát
Giải thích từ ngữ:
– Thích ca mâu ni: danh hiệu đức Phật giáo chủ cõi Ta bà. Thích Ca là phiên âm của chữ Sakhya là tên giòng họ thuộc giai cấp Sát đế lợi ở xứ Capulavaty (Ca tì la vệ), Hán dịch là năng nhân (ân đức, tâm từ bi). Mâu Ni là phiên âm của chữ muni, có nghĩ là vị ẩn sỹ, là tiên nhân, Hán dịch là tịch mặc (đoạn dức, tâm thanh tịnh). Năng nhân tịch mặc là dịch nghĩa dựa theo đức tánh của Phật.
– Phật đảnh thủ lăng nghiêm: đề kinh, nói đầy đủ là “Đại Phật đảnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh thủ lăng nghiêm kinh”, thường được gọi tắt là kinh Lăng Nghiêm. Trong kinh này, Phật chỉ cái chơn tâm thường trú, viên dung vô ngại, bất sinh bất diệt của chúng sinh và hướng dẫn phương pháp tu tập để thể nhập cái chơn tâm ấy.
– Quán Thế Âm: tiếng Phạn là Alokitesvara, là vị Bồ tát hiện thân của tâm từ bi, luôn xem xét tiếng kêu trầm thống của chúng sinh trong thế gian để hướng đến và vận tâm từ bi cứu khổ. Trong pháp hội Lăng nghiêm, sau khi 25 vị đại sĩ trình bày những pháp môn tu hành chứng đắc của mình, pháp môn quán sát âm thanh để đạt được nhĩ căn viên thông của Bồ tát Quán Thế Âm được Bồ tát Văn Thù đề nghị chọn làm pháp môn tu tập cho chúng sinh đời sau, vì pháp môn này rất phù hợp với căn cơ của chúng sinh ở cõi Ta bà: “Thử phương chơn giáo thể, thanh tịnh tại âm văn”.
– Kim Cang Tạng: một trong 16 vị Bồ tát trong hiền kiếp đứng đầu mật bộ, thường xuyên hộ trì cho người thọ trì thần chú. Trong pháp hội này, Ngài là người đứng đầu trong hàng Bồ tát thiên long bát bộ, có tâm nguyện hộ trì pháp hội Lăng nghiêm và hộ trì người trì tụng thần chú Lăng nghiêm.
Đại ý:
Ba câu đầu là kính lễ tam bảo thường trú trong mười phương, bao gồm đồng thể tam bảo, xuất thế gian tam bảo và thế gian trụ trì tam bảo.
Bốn câu sau là kính lễ tam bảo trong đại hội Lăng nghiêm:
Câu 4, kính lễ đức Phật Thích Ca Mâu Ni là vị giáo chủ cõi Ta bà và cũng là vị chủ tọa của pháp hội Lăng nghiêm.
Câu 5, kính lễ kinh Thủ lăng nghiêm, chủ đề chính được thảo luận trong đại hội này và cũng là kinh tiêu biểu cho pháp bảo nói chung trong pháp hội.
Câu 6 và 7, kính lễ hai vị Bồ tát Quán Thế Âm và Kim Cang Tạng, là hai vị tiêu biểu cho hai hội thính chúng, cũng có thể xem như là hai vị trưởng đoàn của hai thành phần đại biểu chính thức của đại hội này.
Người phát tâm bồ đề trước khi thực hành tất cả các Phật sự đều phải kính lễ tam bảo. Cũng như vật, ở đây trước khi trì tụng thần chú Lăng nghiêm, hành giả phải kính lễ tam bảo chung trong khắp cả mười phương và tam bảo tiêu biểu của pháp hội Lăng nghiêm.
HIỆN THẦN NÓI CHÚ
Chánh văn:
爾時世尊從肉髻中湧百寶光,光中湧出千葉寶蓮,有化如來坐寶華中、頂放十道百寶光明,一一光明皆遍示現十恆河沙金剛密跡擎山持杵遍虛空界。大眾仰觀畏愛兼抱、求佛哀祐、一心聽佛無見頂相放光如來宣說神咒。
Giải thích từ ngữ:
– Thế tôn: Theo kinh A hàm và luận Thành thật, Thế Tôn là một trong mười đức hiệu của Phật, đó là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điệu Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Vì có đủ chín đức hiệu trước nên được thế gian tôn trọng kính ngưỡng gọi là Phật Thế Tôn. Theo luận Trí độ thì Thế Tôn không nằm trong mười đức hiệu của Phật. Luận này tách cụm từ Phật Thế Tôn ra làm hai là Phật và Thế Tôn và giải thích rằng vì đủ mười đức hiệu trước nên Phật được gọi là Thế Tôn.
– Nhục kế: Chỗ thịt nổi lên trên đỉnh đầu của Phật giống như búi tóc gọi là nhục kế (búi tóc thịt). Đây là tướng vô kiến đảnh, một trong 32 tướng tốt của Phật biểu tượng của trí tuệ vô thượng.
– Như lai: tiếng Phạn là Tathagatha, là một trong 10 hiệu của Phật, có nghĩa là người đến đúng với chân lý.
+ Theo kinh Kim cang bát nhã, Như Lai là Đấng không từ đâu đến và không đi về đâu (vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai).
+ Theo kinh Niết Bàn, Như Lai là Đấng nương đạo như thật mà thành chánh giác (thừa như thật đạo lai thành chánh giác, cố danh Như Lai).
+ Theo kinh Pháp hoa văn cú, Như Lai là Người đem đạo như thật hóa độ chúng sinh (thừa như thật đạo lai độ chúng sinh, cố danh Như Lai).
– Kim cang mật tích: còn gọi là Kim Cang lực sĩ, Kim Cang Thủ, là tên của các vị thần tay cầm chày kim cang, biểu tượng của uy lực dũng mãnh, có bản nguyện hộ trì Phật pháp. Mật tích là thường ẩn tích bí mật hầu cận đức Phật, và cũng biết được ba điều bí mật của Phật là thân mật, khẩu mật, ý mật để trợ Phật tuyên dương Phật pháp.
– Thần chú: tiếng Phạn là Dhrani (đà la ni), là lời chú có tính thần bí, không dịch nghĩa được (theo các nhà ngôn ngữ học thì thần chú cũng là ngôn ngữ nên cũng có nghĩa và có thể dịch được). Người xưa thường định nghĩa là: uy linh bất trắc là thần, sở nguyện tùy tâm là chú.
Dịch nghĩa:
Bấy giờ Thế Tôn từ trong nhục kế phóng ra hào quang bằng trăm thứ báu. Trong hào quang ấy hiện ra hoa sen cả ngàn cánh báu, có đức hóa Phật ngồi trong hoa ấy, đức hóa Phật ấy từ nơi đỉnh đầu phóng ra mười đạo hào quang trăm báu. Mỗi đạo hào quang lại biến hiện ra mười hằng hà sa vị thần Kim Cang, vị thì cầm chày, vị thì bợ núi khắp cõi hư không. Đại chúng ngước nhìn, vừa sợ vừa vui, bèn cầu xin Phật xót thương che chỡ, hết lòng lắng nghe các đức hóa Phật ngồi trong hào quang đã được phóng ra từ tướng vô kiến đảnh của đức Phật Thích Ca tuyên nói thần chú.
Đại ý:
Trước khi tuyên thuyết thân chú Lăng nghiêm, Phật thị hiện thần lực làm cho quan cảnh của pháp hội thêm phần trang nghiêm, long trọng để cho đại chúng thấy được thần lực nhiệm mầu vĩ đại của thần chú. Phật không trực tiếp nói thần chú mà để cho đức hóa Phật nói với hàng ngàn vị thần Kim Cang hiện thân tướng đầy uy lực hộ trì là biểu tượng của sự uy nghiêm, trân trọng, cần được bảo vệ, cần được hộ trì của thần chú này. Cũng giống như một tổ chức chính trị, xã hội nào đó muốn ban hành một nghị quyết quan trọng của tổ chức mình thì nghị quyết ấy phải được thông qua trong một đại hội được tổ chức hết sức long trọng, trang nghiêm từ nội dung đến hình thức, được truyền thông rộng rãi, bảo vệ an toàn, để gây sự chú ý quan tâm của thính giả trong hội trường và quần chúng ngoài xã hội.
BÁT NHÃ TÂM KINH
Chánh văn:
摩訶般若波羅密多心經。
觀自在菩薩行深般若波羅密多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄。舍利子!色不異空、空不異色,色即是空、空即是色,受、想、行、識亦復如是。舍利子!是諸法空相不生、不滅,不垢、不淨,不增、不減。是故空中無色,無受、想、行、識,無眼、耳、鼻、舌、身、意,無色、聲、香、味、觸、法,無眼界、乃至無意識界,無無明、亦無無明盡,乃至無老死、亦無老死盡,無苦、集、滅、道,無智、亦無得。以無所得故,菩提薩埵依般若波羅密多,故心無卦礙、無卦礙故、無有恐怖、遠離顛倒夢想、究竟涅槃;三世諸佛衣般若波羅密多、故得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅密多是大神咒,是大明咒,是無上咒、是無等等咒、能除一切苦、真實不虛。故說般若波羅密多咒,即說咒曰﹕揭諦、揭諦、波羅揭諦、波羅僧揭諦、菩提薩婆訶。
Giải thích từ ngữ:
– Ma ha: phiên âm của chữ maha trong tiếng Phạn, có nghĩa là lớn, là vĩ đại.
– Bát nhã: phiên âm của chữ prajna trong tiếng Phạn, có nghĩa là trí tuệ.
– Ba la mật đa: phiên âm của chữ paramitta trong tiếng Phạn, có nghĩa là rốt ráo, đến bờ bên kia, vượt qua, chỉ cho năng lực trí tuệ của bồ tát có thể tự độ, độ tha một cách rốt ráo, đưa mình và người từ bờ biển khổ sinh tử bên này vượt qua đến bờ giải thoát bên kia.
Ma ha bát nhã ba la mật đa: trí tuệ vĩ đại có công năng đưa chúng sinh vượt biển sinh tử qua bờ niết bàn rốt ráo an vui. Là một trong lục độ của Bồ tát.
– Tâm kinh: kinh Bát nhã có nhiều bộ: Tiểu phẩm bát nhã 10 quyển, Đại phẩm bát nhã 27 quyển, Kim cang bát nhã 1 quyển đều thuyết minh về thực tướng bát nhã, quán chiếu bát nhã, phương tiện bát nhã và Bát nhã tâm kinh.
Tâm kinh kinh bát nhã này có hai bản, bản dài là bản có đầy đủ phần tựa mở đầu và phần lưu thông kết kinh và bản ngắn là bản Tâm kinh thường tụng chỉ có phần chánh tông, được xem như là toát yếu của hệ thống kinh bát nhã trên nên gọi là tâm kinh.
Tâm kinh còn có nghĩa là kinh nói về tâm chơn như, tức là nói về thực tại tánh không của các pháp duyên khởi. Toàn bộ triết lý cao siêu và thiết yếu của Phật giáo đại thừa đều được gói trọn trong bản kinh này, nên kinh này là kinh học thuộc lòng, kinh gối đầu của người mong cầu giác ngộ, do đó gọi là tâm kinh.
– Quán Tự Tại Bồ tát: danh hiệu khác của Bồ tát Quán Thế Âm, ý nghĩa là chỉ cho cách tu quán. Dùng chánh trí tuệ quán chiếu thật tướng chân như của các pháp một cách tự tại, không còn bị ràng buộc, chấp trước do hai chướng phiền não và sở tri làm trở ngại. Danh hiệu quán thế âm biểu hiện cho tâm từ bi, còn danh hiệu quán tự tại biểu hiện cho tâm trí tuệ của vị Bồ tát này.
– Ngũ uẩn: năm yếu tố tập hợp tạo thành hữu tình, đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc uẩn thuộc về vật chất là sắc pháp, bốn uẩn kia thuộc về tinh thần là tâm pháp. Đây là trường hợp Phật hiệp sắc khai tâm để đối trị những người chấp tâm, tâm sở là thật ngã, thật pháp.
– Không tướng: tướng duyên sinh không thực có của các pháp, không tướng này cũng chính là không tánh của các pháp, cũng tức là pháp tánh.
– A nậu đa la tam miệu tam bồ đề: phiên âm của cụm từ anuttara sammyak sambodhi trong tiếng Phạn, được dịch là vô thượng chánh đẳng chánh giác hoặc vô thượng chánh biến tri, là trí tuệ vô thượng của Phật.
– Câu thần chú bát nhã: “yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha” là phiên âm của câu “gaté, gaté, paragaté, parasâmgté, bodhisattva”, Hán dịch là “độ khứ, độ khứ, cứu cánh độ khứ, cứu cánh chúng độ khứ, chư giác ngộ giả !”. Có nghĩa là “vượt qua, vượt qua, vượt qua bờ bên kia, hãy cùng nhau vượt qua bờ bên kia, hởi những người giác ngộ !”.
Dịch nghĩa:
BÀI KINH TINH TÚY CỦA TRÍ TUỆ RỐT RÁO VIÊN MÃN
Ngài Quán Tự Tại Bồ tát khi đã đi sâu vào trong trí tuệ rốt ráo viên mãn, quán chiếu thấy năm uẩn đều không mà vượt qua tất cả mọi khổ nạn.
(Ngài nói) Này Xá Lợi Phất ! sắc không khác không, không không khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế. Này Xá Lợi Phất ! cái tướng không của các pháp này không sinh, không diệt; không nhơ, không sạch; không tăng, không giảm. Cho nên trong cái không ấy không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không có nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn căn giới cho đến không có ý thức giới; không có vô minh và cũng không có sự chấm dứt của vô minh, không có già chết và cũng không có sự chấm dứt của già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí năng đắc và cũng không có quả sở đắc. Do Bồ tát nương nơi trí tuệ rốt ráo viên mãn không có sở đắc này mà tâm không bị chướng ngại, vì tâm không bị chướng ngại nên không hề sợ hãi, do đó mà xa lìa được vọng tưởng điên dảo, đạt đến niết bàn rốt ráo hoàn toàn. Ba đời chư Phật cũng do nương nơi trí tuệ rốt ráo viên mãn này mà chứng đắc quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Do đó biết rằng trí tuệ rốt ráo viên mãn là bài chú thần kỳ, bài chú sáng chói, bài chú vô thượng, bài chú cao tột bậc, có thể trừ diệt tất cả khổ não, chân thật không dối, cho nên gọi là chú bát nhã ba la mật. Ngài liền nói thần chú rằng: “yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”.
Ý nghĩa:
Nội dung của Bát nhã tâm kinh là thuyết minh về tánh không của các pháp duyên khởi, nhằm để phá trừ chấp ngã, chấp pháp của phàm phu và nhị thừa. Tánh không của Bát nhã không phải là cái không trống rỗng, mà là chân không diệu hữu, “vô nhất vật trung vô tận tạng”. Để thể nhập được tánh không ấy, về mặt lý tánh thì phải xa lia tánh biến kế sở chấp và thể chứng tự tánh viên thành trên các pháp y tha; về mặt thực hành, không những phải trừ bỏ bất thiện pháp mà ngay cả thiện pháp cũng không vướng mắc, như kinh Tứ thập nhị chương nói: “tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng”. Ý nghĩa này đã được Huyền Giác diễn tả trong bài thơ Chứng đạo như sau:
光明寂照等河沙 quang minh tịch chiếu đẳng hà sa
凡聖元來會我家 phàm thánh nguyên lai hội ngã gia
一念不生全體露 nhứt niệm bất sanh toàn thể hiện
六根 纔動被雲遮 lục căn tài động bị vân già
斷除燔瑙重增病 đoạn trừ phiền não trùng tăng bệnh
趍向真如總是邪 xu hướng chân như tổng thị tà
荏苒隨緣無罣礙 nhẫm nhiễm tùy duyên vô quái ngại
涅槃生死等空華 niết bàn sinh tử đẳng không hoa
Tâm quang lặng chiếu khắp gần xa
Phàm thánh xưa nay ở một nhà
Một niệm không sinh bày tánh giác
Sáu căn vừa động dấy tâm ma
Đoạn trừ phiền não càng thêm bệnh
Khuynh hướng chơn như vốn lại tà
Tự tại tùy duyên không vướng mắc
Niết bàn sinh tử thảy không hoa
Bát nhã không tướng, tức chân tâm, vốn không sinh không diệt nhưng do vọng tưởng chạy theo bóng dáng sáu trần chấp cái bóng dáng đó làm ngã, làm pháp. Lại do chính kiến chấp sai lầm ấy làm dấy lên phiền não tham, sân, si, mạn tạo ra nghiệp chướng hữu lậu nhiều kiếp chất chồng làm nhân quả nối theo nhau mãi. Nhận ra các pháp duyên sinh vô tánh không thật có thì sẽ không còn có tâm phân biệt chấp trước. Giác tánh biểu hiện từ nơi trí tuệ vô phân biệt ấy sẽ thực hiện tất cả Phật sự lợi lạc quần sinh với tâm từ bi bình đẳng. Như đôi câu đối sau đây gói trọn ý nghĩa này.
隨塵逐影我法橫生,迷流究竟造成貪瞋癡慢有漏業。
絕相纏根自他不隔,覺性本來具足慈悲喜捨無量心。
Tùy trần trục ảnh, ngã pháp hoành sanh, mê lưu cứu cánh tạo thành tham, sân, si, mạn hữu lậu nghiệp;
Tuyệt tướng triền căn, tự tha bất cách, giác tánh bản lai cụ túc từ, bi, hỉ, xả vô lượng tâm.
HỒI HƯỚNG PHÁT NGUYỆN
Chánh văn:
上來現前清淨眾
諷誦楞嚴諸品咒
回向三寶眾龍天
守護伽藍諸聖眾
三途八難俱離苦
四恩三有盡霑恩
國界安寧兵隔銷
風調雨順民安樂
大眾熏修希勝進
十地頓超無難事
山門清淨絕非虞
壇信皈依增福慧
天上天下無如佛
十方世界亦無比
世間所有我盡見
一切無有如佛者
剎塵心念可數知
大海中水可飲盡
虛空可量風可繫
無能盡說佛功德。
Giải thích từ ngữ:
– Thanh tịnh chúng: chúng tăng thanh tịnh là chúng tăng sống theo tinh thần giới luật, có đời sống phạm hạnh trang nghiêm. Thanh tịnh và hòa hợp là hai yếu tố làm thành bản thể của tăng mà yếu tố thanh tịnh là quyết định.
– Phúng tụng: phúng là hòa âm, tụng là đọc thuộc lòng có giai điệu tiết tấu quy định, nguyên là cách đọc kinh, chú của Bà la môn giáo được Phật cho thái nạp vào các buổi sinh hoạt tập thể của tăng như vào ngày trưởng tịnh. Hiện nay, chư tăng hệ phái Nam tông còn giữ truyền thống sinh hoạt này. Khi chư tăng câu hội, dù khác nhau về ngôn ngữ nhưng họ vẫn cùng hòa âm phúng tụng với nhau được.
– Hồi hướng: hồi chuyển công đức đã tu tập được cho pháp giới chúng sinh để hướng đến mục tiêu mong cầu tuệ giác. Hồi hướng cũng là cách để tạo thành công đức. Có ba nghĩa:
+ Hồi nhân hướng quả: hồi hướng công đức về quả vị vô thượng bồ đề.
+ Hồi tự hướng tha: hồi hướng công đức mình làm về cho tất cả pháp giới chúng sinh.
+ Hồi tiểu hướng đại: hồi hướng công đức về quả vị vô thượng bồ đề.
Hồi hướng công đức trì tụng chú Lăng nghiêm và các phẩm chú Đại bi, Thập chú, Bát nhã lên ngôi Tam bảo và chư vị long thiên thiện thần hộ pháp , trong đó có chư vị Bồ tát hóa thân nên gọi là chư thánh chúng.
– Già lam: tiếng Phạn là samghârâmma (tăng già lam), dịch là khu vườn của chư tăng, tức là vườn chùa, chỉ cho chùa. Như trong các từ danh lam, cửa già.
– Tam đồ: 3 đường ác, còn gọi là 3 ác thú, đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Còn có nghĩa khác là 3 loại hình cụ trị phạt tội nhân, đó là hỏa đồ, đao đồ, huyết đồ tức là cảnh khổ trong 3 ác thú.
– Bát nạn: tám thứ nạn khổ. Rơi vào tám thứ nạn này thì không được gặp Phật pháp để phát tâm tu hành cầu đạo giải thoát được, đó là: 1. Si lung ám á (đui điếc câm ngọng), 2. Địa ngục, 3. Ngạ quỷ, 4. Súc sinh, 5. Trường thọ thiên, 6. Bắc câu lô châu, 7. Thế trí biện thông, 8. Phật tiền Phật hậu.
– Tứ ân: tứ trọng ân, có hai trường hợp:
+ Đối với Phật tử tại gia: 1. Ân cha mẹ, 2. Ân đất nước, 3. Ân tam bảo, 4. Ân chúng sinh.
+ Đối với người xuất gia: 1. Ân cha mẹ, 2. Ân đất nước, 3. Ân thiện hữu tri thức, 4. Ân đàn na tín thí.
– Binh cách: binh là binh khí, vũ khí dùng cho quân đội trong chiến tranh, cách là da thú thuộc thời xưa dùng để may áo giáp hoặc bọc chiến xa. Binh cách là chỉ chung cho các loại quân cụ, nghĩa rộng là chỉ cho chiến tranh loạn lạc.
– Thập địa: mười địa Bồ tát: 1. Hoan hỉ địa, 2. Ly cấu địa, 3. Phát quang địa, 4. Diệm huệ địa, 5. Nan thắng địa, 6. Hiện tiền địa, 7. Viễn hành địa, 8. Bất động địa, 9. Thiện huệ địa, 10. Pháp vân địa.
– Sơn môn: chùa. Ngày xưa chùa thường được xây trên núi, vì thế được gọi là sơn môn, cũng như nói thiền môn, không môn, Phật môn. Vị tăng sáng lập chùa thì gọi là Tổ khai sơn, chư tăng thì gọi là chư sơn thiền đức. Sơn môn như thế gần nghĩa với sơn tăng và quan hệ với hạnh độc cư của người xuất gia. Câu này có bản chép là tam môn, nói đủ là tam giải thoát môn, có nghĩa là ba cánh cửa tâm linh đưa hành giả vào thành giải thoát: không, vô tướng, vô nguyện (vô tác) có quan hệ với tam pháp ấn: vô thường, vô ngã, niết bàn. Tam môn cũng chỉ cho cửa chùa Nhưng sơn môn có lẽ chuẩn mực hơn khi từ này được dùng đối với từ đàn tín ở câu sau.
– Phi ngu: lỗi lầm, chỉ cho đời sống phạm hạnh của tăng bị khuyết.
– Đàn tín: đàn là đàn na, phiên âm củ chữ danna trong tiếng Phạn, có nghĩa là tín thí, là người phát tâm cúng dường tứ sự cho tam bảo mà trực tiếp là cho chư tăng. Đàn tín là thuật ngữ đặc biệt thuộc loại vừa đọc theo âm vừa đọc theo nghĩa, giống như các từ sám hối, tăng chúng…
Dịch nghĩa:
Trên đây đại chúng thanh tịnh hiện diện
đã trì tụng thần chú Lăng nghiêm và các thần chú khác.
Nguyện đem công đức này hồi hướng lên ngôi tam bảo
và các vị thánh chúng thiên long bát bộ hộ trì chốn già lam,
nguyện cho chúng sinh trong tam đồ, bát nạn đều thoát khỏi khổ đau,
bốn ân trong ba cõi đều được thấm nhuần ân đức của Phật.
Cũng xin cầu nguyện cho đất nước bình yên, không có chiến tranh,
mưa gió thuận hòa, nhân dân an lạc.
Đại chúng tu hành cầu mong mau được thăng tiến
cùng lên hàng Bồ tát thập địa một cách thuận lợi dễ dàng.
Sơn môn sống đời phạm hạnh thanh tịnh,
đàn việt về nương tu học tăng thêm phước huệ.
Trên trời dưới trời không ai bằng Phật,
mười phương thế giới cũng không ai sánh được,
tất cả các pháp trong thế gian con đều thấy hết,
không có pháp nào như Phật cả.
Tâm niệm nhiều như vi trần nhưng có thể đếm được,
nước trong biển lớn có thể uống cạn hết được,
hư không có thể đong được, gió có thể buộc lại được,
nhưng công đức của Phật không thể nào nói cho hết được.
Ý nghĩa:
Bài kệ này có hai phần:
Phần đầu gồm 3 bài 12 câu là của thiền sư Chân Yết Thanh Liễu đời Tống (960 – 1276) làm ra đẻ nói lên tâm hồi hướng và phát nguyện. Ngài họ Ung, người đất Thục, là môn đệ của Tổ Đan Hà, vào niên hiệu Thiện Hưng thứ 21 đời Tống Cao Tôn, ngài được sắc phong trụ trì chùa … ở núi Cao đỉnh, Hàng châu.
Phần sau gồm 2 bai 8 câu là kệ tán thán công đức của Phật.
NIỆM HỒNG DANH PHẬT – BỒ TÁT
Chánh văn:
南無娑婆世界、三界大師、四生慈父、人天教主、千百億化身、本師釋迦牟尼佛。
南無本師釋迦牟尼佛。
南無大智文殊師利菩薩。
南無大行普賢菩薩。
南無大悲觀世音菩薩。
南無靈山會上佛菩薩。
Ý nghĩa:
Bồ tát Văn Thù là hiện thân của trí tuệ, Bồ tát Phổ Hiền là hiện thân của hạnh nguyện tức là ý chí, Bồ tát Quán Thế Âm là hiện thân của từ bi tức là tình thương. Đạo đức được hình thành bởi trí tuệ, ý chí và tình thương. Mọi thiện pháp cũng được tạo ra bởi ba yếu tố này. Niệm hồng danh Phật và Bồ tát để tưởng nhớ và thực hành theo công hạnh của các Ngài.
SÁM QUY MẠNG
1. Quy kính Tam bảo:
Chánh văn:
歸命十方調御師
演揚清淨微妙法
三乘四果解脫僧
願賜慈悲哀攝受。
Giải thích từ ngữ:
– Quy mạng: dịch từ chữ namo hoặc namas trong tiếng Phạn, có 3 nghĩa:
+ Ở đời, thân mạng là quý. Đem thân mạng quy kính Phật để biểu hiện sự chí thành và gởi trọn đời mình cho Phật.
+ Quy thuận theo giáo mệnh của Phật, luôn luôn tuân hành lời Phật dạy.
+ Quy là hướng, mạng là đời sống, là tổng báo của sáu căn. Hướng đời mình về bản nguyên của chơn tâm, tức là quy tâm.
– Điều ngự sư: còn gọi là điều ngự trượng phu, bậc đạo sư có khả năng điều phục chế ngự người ác làm cho họ trở thành thánh thiện. Là một trong 10 hiệu của Phật.
Dịch nghĩa:
Quy mạng chư Phật khắp mười phương,
Phật pháp thanh tịnh và mầu nhiệm,
Thánh tăng tam thừa đã giải thoát,
Nguyện rũ lòng thương độ chúng con.
2. Sám hối nghiệp chướng:
Chánh văn:
弟子眾等自違真性枉入迷流,隨生死以漂沈,逐色聲而貪染,十纏十使積成有漏之因,六根六塵妄作無邊之罪,迷淪苦海,深溺邪途,著我耽人,舉枉錯直,累生業障,一切愆尤。仰三寶以慈悲,瀝一心而懺悔,所願能仁拯拔,善友提攜,出燔惱 之深淵,到菩提之彼岸。
Giải thích từ ngữ:
– Cử uổng thố trực: cử là lấy, dùng; uổng là cong, tà; thố là bỏ, không dùng. Cử uổng thố trực là lấy cong bỏ thẳng, theo tà bỏ chánh.
– Thập triền: triền là trói buộc bằng dây. 10 tâm sở phiền não sau đây trói buộc chúng sinh trong sinh tử: phẩn, phú, hôn trầm, thụy miên, phóng dật, trạo cử, vô tàm, vô quý, tật, xan. Đoạn trừ được 10 triền này là được giải thoát.
– Thập sử: 10 căn bản phiền não sai sử chung sinh tạo nghiệp bất thiện hữu lậu, làm mê mờ giác tánh, không giải thoát được, đó là 5 độn sử: tham, sân, si, mạn, nghi và 5 lợi sử: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ.
– Lịch nhứt tâm: lịch là lọc nước, cho nhỏ giọt. Lịch nhứt tâm là lọc sạch đáy lòng, chỉ tâm trạng vô cùng tha thiết chân thành.
– Phiền não: phiền nhiễu não loạn đời sống tinh thần, là những tâm lý xấu làm chướng ngại sự phát triển tâm linh, gồm có 6 căn bản phiền não là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến và 20 tùy phiền não là phẩn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.
Dịch nghĩa:
Đệ tử chúng con vì sống trái với chơn tánh, nên rơi vào dòng mê một cách oan uổng, nỗi trôi theo theo sinh tử, đắm nhiễm với sắc thanh, mười triền mười sử chất thành nhân hữu lậu, sáu căn sáu trần tạo tội lỗi vô biên, đắm trong biển khổ, đi mãi đường tà, chấp ngã chấp nhơn, chuộng cong bỏ thẳng, gây oan nhiều kiếp, tạo nghiệp nhiều đời. Cúi xin tam bảo từ bi, cho con thành tâm sám hối, ngưỡng mong Phật tổ cứu vớt, thiện hữu dắt dìu, ra khỏi vực sâu phiền não, đến bờ giác ngộ bên kia.
3. Hạnh ngộ thắng duyên:
Chánh văn:
此世福基命位各願昌隆,來生智種靈苗同希增秀,生逢中國,長遇明師,正信出家,童真入道,六根通利,三業純和,不染世緣,常修梵行,執持禁戒,塵業不侵,嚴護威儀,蜎飛無損,不逢八難,不缺四緣,般若智以現前,菩提心而不退,修習正法,了悟大乘,開六度之行門,越三祇之劫海,建法幢於處處,破疑網於重重,降伏眾魔,紹隆三寶,承事十方諸佛無有疲勞,修學一切法門悉皆通達,廣作福慧普利塵沙,得六種之神通,圓一生之佛果。
Giải thích từ ngữ:
– Phước cơ mạng vị: nền phước và thọ mạng, tức là phúc và thọ.
– Trí chủng linh miêu: hạt giống trí tuệ và mầm tâm linh, chỉ cho bi và trí.
– Trung quốc: khu trung tâm văn hóa, có đời sống sung túc, trí thức, văn minh.
– Bát nạn: 8 nơi khổ nạn không có Phật pháp: si lung ám á, địa nguc, ngạ quỷ, súc sinh, thế trí biện thông, Phật tiền Phật hậu, trường thọ thiên, bắc cu lô châu. Rơi vào một trong tám nạn này thì không được gặp Phật pháp để tu hành giải thoát mà còn phải chịu trầm luân nhiều kiếp.
– Tứ duyên: tức là tứ sự: ẩm thực, y phục, ngọa cụ, y dược.
– Tam kỳ: 3 a tăng kỳ kiếp, tức 3 vô số kiếp, là khoảng thời gian tu tập từ phàm phu đến quả Phật. A tăng kỳ thứ nhứt từ từ địa vị Thất tín đến Bồ tát sơ địa, a tăng kỳ thứ hai từ Sơ địa đến Đệ bát địa, a tăng kỳ thứ ba từ Đệ bát địa đến quả vị Diệu giác.
– Nghi võng: lưới nghi. Sa vào lưới nghi thì không tin chánh pháp để tu tập. Không tu tập được thì không giải thoát được như người bị mắc lưới.
Dịch nghĩa:
Đời này phước đức bền vững, thọ mạng miên trường, kiếp sau trí tuệ phát sinh, tâm linh thăng tiến, sinh nơi văn hóa, gặp được minh sư, phát tâm xuất gia khi còn niên thiếu, sáu căn sáng suốt, ba nghiệp hiền hòa, không nhiễm duyên đời, phạm hạnh thanh tịnh, giữ gìn giới luật và các oai nghi, không hại chúng sanh dù như ruồi kiến; xa lìa tám nạn, đầy đủ bốn duyên; trí tuệ mở bày, từ tâm thăng tiến, tu học chánh pháp, rõ lý đại thừa; thực hành lục độ suốt ba vô số kiếp dài, dựng cờ chánh pháp khắp phá lưới nghi nhiều lớp, hàng phục ma quân, xương minh đạo pháp; Phật sự khắp mười phương làm không mõi mệt, pháp môn nhiều vô lượng học tập suốt thông; tu phước tu huệ, lợi đạo ích đời, chứng được lục thông, viên thành Phật quả.
4. Phát nguyện lợi tha:
Chánh văn:
然 後不 捨 法界,遍入 塵勞,等觀音之慈心,行普賢之願海。 他方此界,逐類隨形,應現色身演揚妙法,泥犁苦趣,餓鬼道中,或放大光明,或現諸神變,其有見我相,乃至聞我名,皆發菩提心,永出輪回苦,火鑊冰河之地變作香林,飲銅食鐵之途化生淨土,披毛戴角,負債含怨,盡罷辛酸,咸霑利樂,疾疫世而現為藥草捄療沈痾,飢饉時而化作稻糧濟諸貧餒,但有利益無不興崇。次期累世冤親現存眷屬,出四生之汨沒,捨萬劫之愛纏,等與含靈齊成佛道。虛空有盡,我願無窮,情與無情,同圓種智。
Giải thích từ ngữ:
– Nê lê: phiên âm của chữ nila là một cảnh địa ngục tối tăm nhơ bẩn.
– Hỏa hoạch, băng hà, ẩm đồng, thực thiết: tên các lọa địa ngục có hình cụ trị phạt tương ứng.
Dịch nghĩa:
Từ đây không bỏ cõi đời, có lòng từ như đức Quán Thế Âm, với hạnh nguyện như Phổ Hiền Bồ tát, bất cứ nơi đâu trong ba đường ác, tùy loại chúng sinh, hiện thân thuyết pháp, hoặc bằng trí tuệ, hoặc bởi tài năng, khiến chúng sinh kia chỉ cần thấy mặt, thậm chí nghe tên, đều phát tâm bồ đề, khỏi hẵn khổ sinh tử’, còn các địa ngục hỏa hoạch, băng hà, ẩm đồng, thực thiết đều được biến thành rừng hoa thơm đẹp như ở tịnh độ; các loài súc sinh mang lông đội sừng đền nợ kiếp trước, đều thoát khổ nạn, được sống an vui; người bệnh tật thì giúp thuốc men, kẻ đói rách thì cho cơm áo, dù ích lợi nhỏ không bỏ việc gì. Và lại nguyện cho kẻ oán người thân nhiều đời nhiều kiếp đều được trở thành quyến thuộc của nhau, cùng thoát cảnh khổ sáu đường trôi nổi, đều đoạn ái ân vạn kiếp buộc ràng. Hư không dù tận, nguyện con không cùng, cầu cho chúng sanh đều thành Phật đạo.
Bài sám Quy Mạng này do tổ Bách Trượng sáng tác (?).
Đại ý:
Sau khi phát tâm mong cầu tuệ giác, hành giả cần phải nương vào thần lực tam bảo, sám hối nghiệp chướng nhiều đời trong quá, tu tập phước huệ nhiều kiếp trong tương lai, với tâm nguyện hoằng pháp lợi sanh bền bỉ kiên định để làm hành trang qua bờ giải thoát.
Bản dịch của Hòa thượng Nhất Hạnh:
Quy mạng mười phương vô thượng giác,
Pháp mầu vi diệu đã tuyên dương,
Thánh tăng bốn quả ba thừa độ,
Duỗi cánh tay vàng nguyện xót thương.
Ngược dòng chơn tánh từ lâu,
Chúng con trôi nổi trên đầu sông mê,
Biết đâu là chốn đường về,
Bập bềnh sóng nước chưa hề đoái lui,
Nguyên nhân hữu lậu gây rồi,
Bao nhiêu nghiệp chướng lâu đời tạo ra,
Biết đâu nẽo chánh đường tà,
Oan khiên nghiệp báo thật là nặng sâu.
Nay con khẩn thiết cúi đầu,
Phơi bày sám hối cần cầu hồng ân,
Chí thành cầu đấng năng nhân,
Từ bi cứu vớt trầm luân mọi loài,
Nguyện cùng thiện hữu ra khơi,
Cùng lên bờ giác lìa nơi não phiền,
Kiếp này xin nguyện xây thêm,
Cao tòa phước đức vững nền đạotâm,
Chờ mong đạo nghiệp vun trồng,
Từ bi trí tuệ nẩy mầm tốt tươi,
Kiếp sau xin được làm người,
Sinh ra gặp pháp sống đời chân tu,
Dắt dìu nhờ bậc minh sư,
Nương vào chánh tín hạnh từ xuất gia,
Sáu căn ba nghiệp thuần hòa,
Không vương tục lụy theo đà thế nhân,
Một lòng tấn đạo nghiêm thân,
Giữ gìn phạm hạnh nghiệp trần lánh xa,
Oai nghi phong độ chói lòa,
Lòng từ hộ mạng trước là vị sanh,
Lại thêm đầy đủ duyên lành,
Bao nhiêu tai nạn biến thành hư không,
Bồ đề nguyện kết một lòng,
Đài sen bát nhã chân không hiện tiền,
Nhờ công tu tập tinh chuyên,
Đại thừa liễu ngộ chứng truyền chân tâm,
Thoát ngoài kiếp hải trầm luân,
Hoằng khai lục độ hạnh môn cứu người,
Đạo tràng dựng khắp nơi nơi,
Lưới nghi phá hết trong ngoài sạch không,
Tà ma hàng phục đến cùng,
Truyền đăng Phật pháp nối dòng vô chung,
Vâng làm Phật sự mười phương,
Không vì lao nhọc nãn lòng tinh chuyên,
Bao nhiêu diệu pháp thâm huyền,
Thảy đều thực hiện siêu nhiên độ mình,
Rồi đem phước huệ độ sinh,
Chứng nên Phật quả hoàn thành pháp thân,
Tùy cơ ứng hiện cõi trần,
Phân thân vô số độ dần chúng sanh,
Nước từ rưới khắp nhân thiên,
Mênh mông biển hạnh lời nguyền độ tha,
Khắp hòa thế giới gần xa,
Diễn dương diệu pháp trước là độ sanh,
Những nơi khổ thú trầm luân,
Hào quang chiếu diệu hiện thân tốt lành,
Chỉ cần thấy dạng nghe danh,
Muôn loài thoát khỏi ngục hình đớn đau,
Phát lời nguyện ước cao sâu,
Muôn ngàn khổ địa thảy đều tiêu tan,
Bao nhiêu nghiệp trái hàm oan,
Bao nhiêu đau khổ trong hàng súc sanh,
Đều nhờ thần lực oai linh,
Sương tan núi biếc bình minh rạng ngời,
Thuốc thang cứu giúp cho đời,
Aïo cơm cứu giúp cho người bần dân,
Bao nhiêu lợi ích hưng sùng,
An vui thực hiện trong vòng trầm luân,
Bao nhiêu quyến thuộc thân oan,
Cùng nguyền vượt biển trần gian nổi chìm,
Xa lìa ái nhiễm liên miên,
Đoạn trừ những mối phược triền thân tâm,
Vun trông đạo nghiệp thiện nhân,
Cùng bao loài khác pháp thân hướng về.
Hư không dù có chuyển di,
Nguyện con muôn kiếp không hề lung lay,
Nguyện cầu vạn pháp xưa nay,
Hoàn thành trí nghiệp vững cây bồ đề.
TÁN PHẬT.
Chánh văn:
讚禮釋尊無上能仁,
增祇久遠修因,
兜率降神,
長辭寶位金輪,
坐菩提座大破魔軍,
一睹明星道成降法霖,
三乘眾等歸心、無生已證,
現前眾等歸心、無生速證。
Giải thích từ ngữ:
– Đâu suất: phiên âm của chữ tusita trong tiếng Phạn, là cõi trời thứ tư trong sáu cõi trời thuộc dục giới, có hai khu vực là đâu suất nội viện và đâu suất ngoại viện.ngoại viện là khu sinh hoạt của chư thiên, nội viện là nơi các vị Bồ tát đẳng giác hành đạo đợi chứng quả diệu giác giáng trần làm Phật. Hiện nay đức Phật Di Lặc đang hành đạo ở đấy. Sáu cõi trời thuộc dục giới gọi là lục dục thiên, đó là: tứ thiên vương thiên, đao lợi thiên, dạ ma thiên, đâu suất đà thiên, hóa lạc thiên, tha hóa tự tại thiên.
– Kim luân: có hai nghĩa, về mặt cấu trúc của thế giới, tính từ dưới lên, có phong luân, thủy luân, kim luân, địa luân; về mặt phước báo, theo luận Câu xá, là một trong thất bảo sở hữu của chuyển luân thánh vương. Tùy theo phúc báo hơn kém nhau mà có kim luân vương, ngân luân vương, đồng luân vương, thiết luân vương. Luân vương ở đây chỉ cho ngôi vua.
– Quy tâm: trở về với bản tâm thanh tịnh của mình.
Dịch nghĩa:
Tán thán đảnh lễ đức Thích Ca Thế Tôn Năng Nhân vô thượng, Ngài đã tu nhân Phật ba a tăng kỳ kiếp lâu xa, từ cung trời Đâu suất giáng sinh hoàng cung của vua Tịnh Phạn ở thế gian này, nhưng đã dứt khoát từ bỏ ngai vàng, xuất gia tầm đạo, sau 49 ngày thiền định dưới cội bồ đề, hàng phục ma binh, khi sao Mai vừa mọc thì thành chánh giác, rồi sau đó thuyết pháp độ sanh suốt 49 năm. Hàng tam thừa thánh giả đã được khai thị trở về với bản tâm, đều đã chứng quả vô sanh. Đệ tử chúng con ngày nay cũng nguyện quay về với bản tâm, xin mau được chứng quả vô sanh.
CHÚC TỨ SANH
Chánh văn:
四生九有同登華藏玄門,
八難三徒共入毘盧性海。
Giải thích từ ngữ:
– Tứ sanh: bốn loài chúng sanh: noãn, thai, thấp, hóa là chánh báo trong lục đạo.
– Cửu hữu: chín địa trong ba cõi là y báo trong lục đạo.
– Hoa tạng: nói đủ là liên hoa tạng thế giới, là cõi tịnh độ của báo thân viên mãn của Phật, toàn do hoa sen báu làm thành. Thế giới Hoa tạng được nói đến trong kinh Hoa Nghiêm là của Phật Lô Xá Na, báo thân của Đức Thích Ca, dưới cùng là phong luân, trên phong luân là biển Hương thủy, trong biển mọc lên hoa sen báu lớn có chứa vi trần số thế giới. Hoa tạng giới này có 20 tầng, 11 lớp.
– Tì Lô: nói đủ là Tì Lô Giá Na là phiên âm của chữ Vairocana, danh hiệu chung của pháp thân Phật.
Dịch nghĩa:
Cầu nguyện cho 4 loài chúng sanh trong 9 địa đều cùng bước qua cánh cửa nhiệm mầu của thế giới Hoa tạng, những hữu tình đang ở trong 3 ác đạo chịu 8 nạn khổ đều được vào trong biển pháp tánh thân.
TAM TỰ QUY Y
Chánh văn:
自皈依佛,當願眾生,體解大道,發無上心。
自皈依法,當願眾生,深入經藏,智慧如海。
自皈依僧,當願眾生,統里大眾,一切無礙。
Ý nghĩa:
Từ bỏ tà pháp, về nương chánh pháp để đạt đến giải thoát gọi là quy y. Chánh pháp là trung tâm của tam bảo, vì Phật bảo là người nói pháp, Tăng bảo là là người truyền bá pháp. Ai đã tin và trở về nương tựa với Pháp thì người đó đương nhiên đã về nương tựa với Phật với Tăng. Trước khi chấm dứt một thời khóa tụng, đem cả thân mạng quy hướng về tam bảo để cầu cho tự tha lưỡng lợi thể hiện lý tưởng Đại thừa của người mong cầu tuệ giác vô thượng.
Quy y tam bảo có sự có lý. Tự quy y Tam bảo là Tam bảo thuộc về lý, tức là đồng thể tam bảo. Nói cách khác, tự quy y Phật, Pháp, Tăng là tự trở về với bản tánh giác, chánh, tịnh trong tự tánh của chính mình.
Muốn thành Phật, tức là trở về với bản tánh giác ngộ của mình thì phải đi trên đại đạo, tức là tu hạnh đại thừa. Muốn tu hạnh đại thừa thì phải phát lòng vô thượng bằng cách hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh. Bản tánh giác ngộ của chúng sinh từ vô thỉ đến nay vốn bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm. Phật là giác, có ba nghĩa: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Người học Phật phải thực hành hạnh tự giác trước.
Muốn thấy pháp, tức thấy chân lý thì phải sống theo, sống đúng với chánh pháp. Giáo pháp tuy nhiều vô lượng nhưng tất cả đều thuần một vị giải thoát. Con đường đưa dến giải thoát là bát chánh đạo cho nên nói pháp là chánh. Muốn thâm nhập kinh tạng thì với trí tuệ của mình phải sống theo, sống đúng chánh pháp, tức là sống tôn trọng sự thật; sống có sự hành trì tam vô lậu học: giới, định, tuệ; sống theo tinh thần từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha. Chính nhờ có đời sống như vậy mà trí tuệ được tăng trưởng.
Muốn hóa độ chúng sanh, tức thống lý đại chúng thì phải có quay về với bản tâm thanh tịnh của mình, tức là có đời sống phạm hạnh trang nghiêm để cho thân giáo và khẩu giáo hợp nhất thì mới có thể thuyết phục người khác về với mình dễ dàng. Tăng là tịnh, đời sông thanh tịnh của tăng là bài pháp không lời của thân giáo có công năng thông lý đại chúng một cách tuyệt vời.
Trong ba bài kệ trên, câu đầu của mỗi bài là quy y nhứt thể tam bảo, câu thứ hai chỉ cho chúng sanh vốn sẵn đủ giác tánh chơn như thanh tịnh (Phật, pháp, tăng), câu thứ ba của mỗi bài là nêu biệt tướng tam bảo. Phật là giác, là tự tánh của trí tuệ; pháp là chánh, là nguyên tắc hướng dẫn hành giả đi đúng chánh đạo; tăng là tịnh, là đại chúng chung sống trong tinh thần hòa hợp và thanh tịnh. Có chỗ còn nói, Phật là pháp thân đức, pháp là bát nhã đức, tăng là giải thoát đức. Làm cho ba đức tánh của chơn tâm viên dung hiển hiện là quy y tam bảo.
CHƯƠNG II:
THỜI CÔNG PHU CHIỀU
KINH A DI ĐÀ
Kinh A Di Đà thuộc thể loại trường hàng vô vấn tự thuyết, từ đầu đến cuối kinh chỉ là lời Phật nói. Theo cách phân chia bố cục thông thường, kinh A Di Đà cũng có ba phần: phần tự, phần chánh tôn, phần lưu thông. Trong phần chánh tôn, căn cứ vào nội dung, kinh lại có thể chia thành hai phần chính:
Phần thứ nhứt, Phật giới thiệu về cảnh giới Cực lạc và tình hình sinh hoạt của nhân dân bên ấy, tức là nói về y báo và chánh báo của nước Cực lạc, còn gọi là phần y chánh trang nghiêm.
Phần thứ hai, Phật khuyên chúng sinh nên phát nguyện cầu sinh về nước Cực lạc và chỉ ra phương pháp hay điều kiện vãng sanh là niệm Phật A Di Đà nhứt tâm bất loạn, còn gọi là phần tín nguyện vãng sanh.
Trước khi lần lược giải thích từng phần của kinh, xin trích ra bài kệ “Thỉnh Gia” của ngài Vân Thê Liên Trì trong kinh “A Di Đà sớ sao” để bày tỏ tâm trạng của người chú giải.
Chánh văn:
請加 Thỉnh Gia
皈命娑婆說法主 Qui mạng ta bà thuyết pháp chủ
西方接引大慈尊 Tây phương tiếp dẫn đại từ tôn
不可思議佛護經 Bất khả tư nghị Phật hộ kinh
舍利文殊諸聖者 Xá Lợi, Văn Thù, chư thánh giả
二土六方遍塵剎 Nhị độ, lục phương biến trần sát
過去現在及當來 Quá khứ, hiện tại cập đương lai
無盡三寶咸證知 Vô tận Tam Bảo hàm chứng tri
唯願慈悲攝受我 Duy nguyện từ bi nhiếp thọ ngã
我今妄以穢土見 Ngã kim vọng dĩ uế độ kiến
蠡測如來清淨心 Lệ trắc Như Lai thanh tịnh tâm
仰承三寶大威神 Ngưỡng thừa Tam Bảo đại oai thần
加被凡愚成勝智 Gia bị phàm ngu thành thắng trí
使我言言符佛意 Sử ngã ngôn ngôn phù Phật ý
流通遐邇益含靈 Lưu thông hà nhĩ ích hàm linh
見聞隨喜悉往生 Kiến văn tuỳ hỉ tất vãng sinh
同證寂光無上果。 Đồng chứng tịch quang vô thượng quả
Giải thích từ ngữ:
– Bất khả tư nghị Phật hộ kinh: Tên khác của kinh A Di Đà.
– Lãi: còn đọc là lệ, là cái vỏ sò. Ý nói đem tri kiến nhỏ bé của phàm phu cõi uế độ để giải thích kinh là những lời dạy từ tâm thanh tịnh của Phật nói ra thì không bao giờ nói đúng ý Phật được, cũng giống như lấy vỏ sò đong nước biển là việc không thể nào làm được.
– Hà nhĩ: hà là xa, nhĩ là gần. Có nghĩa là khắp nơi.
Dịch nghĩa:
CẦU XIN GIA HỘ
Kính ngưỡng đức Phật Thich Ca, giáo chủ cõi Ta bà
Kính ngưỡng đức Phật A Di Đà, giáo chủ cõi Cực lạc
Kinh bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm
Xá lợi, Văn thù và các vị thánh giả
Tam bảo ở hai cõi sáu phương và khắp trần sa thế giới khác
Trong cả trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai
Ngưỡng nguyện ơn trên từ bi chứng chứng tri và nhiếp thọ con
Con nay đem cái tri kiến phàm phu ở cõi uế trược này
Để suy diễn chân lý lưu xuất từ tâm thanh tịnh của Phật
Việc làm đó như lấy vỏ sò đong nước biển thật là ngu dốt
Mông nhờ sức oai thần to lớn của tam bảo
Gia hộ cho hàng phàm ngu nay có được trí tuệ siêu việt
Khiến cho con khi thuyết trình về kinh A Di Đà
Lời lời đều phù hợp với diệu ý của Phật nói
Để kinh này được lưu thông khắp nơi làm lợi ích chúng sinh
Làm cho những người thấy, nghe và tùy hỉ
Đều được vãng sinh về cảnh giới thường tịch quang tịnh độ.
A. PHẦN TỰ.
Chánh văn:
佛 說 阿 彌 陀 經
(姚秦三藏法師鳩摩羅什譯)
如是我聞,一時佛在舍衛國,祇樹級孤獨園,與大比丘僧千二百五十人俱、皆是大阿羅漢眾所知識、長老舍利弗、摩訶睦犍蓮、摩訶迦葉、摩訶迦旃筳、摩訶俱稀羅、離婆多、朱利槃陀伽、難陀、阿難陀、羅侯羅、僑梵波提、賓頭盧頗羅墮、迦留陀夷、摩訶劫賓那、薄拘羅、阿耨樓陀,如是等諸大弟子,并諸菩薩摩訶薩、文殊師利法王子、阿逸多菩薩、乾陀訶提菩薩、精進菩薩,與如是等諸大菩薩,及釋提桓因等無量諸天大眾俱。
Giải thích từ ngữ:
– Cưu ma la thập: (Kumarajiva), còn phiên âm là Cưu ma la thập bà, dịch là Đồng Thọ (344 – 413), đời Diêu Hưng được phong làm Quốc sư, mời trụ ở Tây minh các và Tiêu diêu viện để dịch kinh. Ngài dịch được 380 quyển. Năm Hoằng Thỉ thứ 11 đời Diêu Tần, ngài viên tịch ở Trường an.
– Xá lợi phất: phiên âm của chữ sariputta trong tiếng Phạn, là con bà Xá Lợi, đặt tên theo tên mẹ. Ngài là vị trí tuệ đệ nhất trong thập đại đệ tử của Phật.
– Mục kiền liên: (Maudgalyayana) là vị đại đệ tử thần thông đệ nhất trong thập đại đệ tử của Phật, thân phụ là Kolita.
– Ca diếp: (Kasypapa), đầu đà đệ nhứt. Theo Phật giáo bắc truyền, ngài là sơ tổ thiền tông. Hán dịch là Ẩm Quang vì khi sinh ngài, trong nhà ngập tràng ánh sáng.
– Ca chiên diên: là vị luận nghị đệ nhất trong mười đại đệ tử của Phật.
– Châu lợi Bàn đà già: tức là Châu lợi và Bàn đà già (Suddhi và Panthaka) là hai anh em ruột. Bàn đà già còn có phiên âm khác là Bàn thát ca, là tộc tánh. Người anh là Ma ha Bàn đà già, người em là Châu Lợi Bàn đà già. Châu lợi có căn tính chậm lụt, còn người anh thì rất thông minh. Sau Châu lợi được Phật dạy cho bốn chữ “phất trần trừ cấu” để tụng đọc trong khi quét tước hằng ngày, qua nhiều năm tháng cũng không nhớ thứ tự trước sau của bốn chữ ấy. Phải trải qua 6 năm vừa đọc vừa quét sân nhà mãi mới nhớ được và từ đó nhập tâm. Thế rồi một hôm vỡ lẽ tự ngộ, chứng quả a la hán.
– A nậu lâu đà: (Anurudha), còn phiên âm là A na luật hoặc A na luật đà, là vị thiên nhãn đệ nhứt. Khi mới xuất gia, mỗi khi nghe Phật thuyết pháp, ngài thường ngủ gật, bị Phật quở, ngài quyết tâm không ngủ suốt mấy ngày đêm nên măt sưng húp lên và sau đó bị mù. Phật dạy ngài may y và tập trung tâm ý vào đường kim múi chỉ cho đến nhứt tâm bất loạn, chứng quả a la hán và được thiên nhãn đệ nhứt.
– Tân đầu lô phả la đọa: (Pindola Bharadvaja), gọi tắt là Tân đầu lô, có hạnh nguyện an trụ ở thế gian. Vốn là đại thần của vua Ưu Điền, ở nước Câu xá di, lợi căn xuất gia, đắc a la hán, hay biểu diễn thần thông với ngoại đạo, bị Phật quở cho qua ở châu Cù đà di (Tây ngưu hóa châu). Sau dân chúng Nam thiện bộ châu nhớ ngài, xin Phật cho ngài trở về. Phật hứa khả và căn dặn ngài không được vào niết bàn mà phải ở lại thế gian, trong núi Ma lê độ chúng sanh.
– Kiều phạm ba đề: (Gavanipati), dịch là Ngưu ty. Trong quá khứ do ngắt một bông lúa vứt đi mà 500 kiếp phải làm kiếp trâu để trả nợ. Chỗ khác nói do quá khứ chê một vị tỳ kheo già ăn chậm như trâu nhơi mà phải chịu quả báo miệng nhai hoài dù lúc không ăn gì suốt 500 kiếp, còn gọi là Ngưu tướng tỳ kheo. Ngài là vị ứng cúng đệ nhất vì dâng cúng cho nhạn chúa khi tiền thân của ngài là một con nhạn nên được phước báo như thế.
– Kiếp tân na: (Kapphina), dịch là Phòng tú, người nước Kiều tát la, chuyên về khoa thiên văn tinh tượng.
– Ca lưu đà di: (Kalodayin), còn gọi là Hắc ưu đà di, Hắc sắc vì da đen.
– A dật đa: (Ajita), dịch là Vô năng thắng, là tên khác của Bồ tát Di lặc.
– Càn đà ha đề: phiên âm của chữ candhahastiya trong tiếng Phạn, Hương tượng, tên một vị Bồ tát. Còn dịch là Bất hưu tức Bồ tát.
– Thích đề hoàn nhơn: nói đủ là Thích ca đề hoàn nhơn đa la (Sakkya Devânâm Indra), trời Đế thích, tức là vị thiên chủ của cõi trời Đao lợi, còn gọi là Tam thập tam thiên, có hạnh nguyện hộ trì Đức Phật, trợ lý các Phật sự của Bồ tát.
Dịch nghĩa:
Phật nói kinh A Di Đà.
Tam tạng pháp sư Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần dịch
Tôi nghe như vầy, một thời Đức Phật ở tại vườn ông Cấp Cô Độc rừng cây Thái tử Kỳ Đà thuộc nước Xá vệ, cùng với chúng tì kheo 1250 vị, đều là các vị đại a la hán mà đại chúng dều biết đến, như trưởng lão Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca Chiên Diên, Đại Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạt Câu La, Anậu Lâu Đà, vv… Và các Đại Bồ tát như Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử, Bồ tát A Dật Đa, Bồ tát Càn Đà Ha Đề, Bồ tát Thường Tinh Tấn vv… Và còn có vô lượng đại chúng là chư thiên như ông Thích Đề Hoàn Nhân vv… đều vân tập đông đủ.
Ý nghĩa:
Theo cách giải thích truyền thống, phần tự này còn gọi là phần ngũ chủng thành tựu, có nghĩa là năm yếu tố chứng minh cho sự xác tín của kinh, đó là:
1. Thời thành tựu: Thời gian diễn ra pháp hội đó là “nhất thời”.
2. Xứ thành tựu: Địa điểm là tại vườn ông Cấp Cô Độc thuộc nước Xá vệ.
3. Chủ thành tựu: Chủ tọa pháp hội là Đức Phật Thích Ca.
4. Chúng thành tựu: Thính chúng trong pháp hội Liên Trì có ba thành phần: Thanh văn do Trưởng lão Xá Lợi Phất làm trưởng đoàn, Bồ tát do Ngài Văn Thù Sư Lợi làm trưởng đoàn, chư thiên long bát bộ do ông Thích ĐềHoàn Nhơn làm trưởng đoàn. Ta thấy hai thành phần đại biểu chính thức đều do hai vị trí tuệ đệ nhứt làm trưởng đoàn. Điều này rất có ý nghĩa, vì kinh này là kinh vô vấn tự thuyết, nội dung nói về cõi Cực lạc, một thế giới còn xa lạ đối với chúng sanh cõi Ta bà, họ chỉ có thể biết đến thế giới ấy bằng đức tin, nên cần phải được hai bậc đại trí chấp nhận ấn chứng niềm tin ấy cho đại chúng và gây niềm tin cho chúng sanh sau này.
5. Văn thành tựu: Sự khẳng định của người tường thuật kinh này, xem như sự xác nhận của vị thư ký hội nghị.
B. PHẦN Y CHÁNH TRANG NGHIÊM.
Phần này được chia thành ba đoạn:
Đoạn 1: Giới thiệu tổng quát về y chánh ở nước Cực lạc
Chánh văn:
爾時佛告長老舍利弗,從是西方過十萬億佛土,有世界名曰極樂,其土有佛號阿彌陀今現在說法。
Giải thích từ ngữ:
A Di Đà : (Amitabhà) là danh hiệu của Đức Phật giáo chủ nước Cực lạc, có nghĩa là vô lượng thọ, vô lượng quang. Ngài có hạnh nguyện tiếp dẫn những ai trì niệm danh hiệu của ngài cho đến nhất tâm bất loạn về thế giới Cực lạc. Cung phù trợ cho Phật sự tiếp dẫn chúng sanh của ngài có hai vị Bồ tát là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Thánh tượng Phật A Di Đà, Quán Âm, Thế Chí thường được thờ chung gọi là Di đà tam tôn.
Dịch nghĩa:
Bấy giờ Đức Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất, từ đây đi về phía Tây, qua khỏi mười vạn ức cõi Phật , có một thế giới tên là Cực lạc, cõi nước ấy có Đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đang thuyết pháp.
Đoạn 2: Giới thiệu về y báo nước Cực lạc
Đoạn này có thể được chia làm 4 đoạn nhỏ:
2.1) Ý nghĩa tên nước Cực lạc:
Chánh văn:
舍利弗,彼土何故名為極樂,其國眾生無有眾苦、但受諸樂、故名極樂。
Dịch nghĩa:
Này Xá Lợi Phất, cõi nước kia vì sao gọi là Cực lạc ? Vì chúng sanh nước ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng các niềm vui, cho nên gọi là Cực lạc.
Ý nghĩa:
Thế giới Cực lạc theo như định nghĩa trên là cảnh giới không có các khổ sinh lão bịnh tử vv… Điều này phản ánh thực tại cuộc sống là dẫy đầy đau khổ, con người luôn luôn mong ước có một thế giới hoàn toàn an lạc hạnh phúc. Đây là ước nguyện thiết thực ngàn đời của nhân loại và chúng sinh.
2.2) Quang cảnh nước Cực lạc:
Chánh văn:
又舍利弗,極樂國土、七重欄楯、七重羅網、七重行樹皆是四寶、周匝圍遶,是故彼國名為極樂。又舍利弗,極樂國土、有七寶池、八功德水充滿其中,池底純以金沙布地,四邊皆道,金、銀、琉璃、玻璃合成,上有樓閣亦以金、銀、琉璃、玻璃、硨磲赤珠、瑪瑙而嚴飾之,池中蓮華大如車輪、青色青光、黃色黃光、赤色赤光、白色白光、微妙香潔。舍利弗,極樂國土成就如是功德莊嚴。
Dịch nghĩa:
Lại nữa Xá Lợi Phất, cõi nước Cực lạc có bảy hàng lan can, bảy hàng cây báu, bảy hàng lưới giăng đều toàn làm bằng bốn thứ trân bảo bao bọc chung quanh, cho nên nước ấy tên là cực lạc.
Lại nữa Xá Lợi Phất, cõi nước Cực lạc có ao bảy báu, trong ao chứa đầy nước tám công đức, đáy ao trải toàn bằng cát vàng, chung quanh bờ ao là lối đi được tạo thành bỡi bốn thứ trân bảo: vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Bên trên có lầu gác cũng được trang sức bằng bảy báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não. Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe, hoa xanh sáng xanh, hoa vàng sáng vàng, hoa đỏ sáng đỏ, hoa trắng sáng trắng, mịn màng, kỳ diệu, thơm ngát, trong lành. Xá Lợi Phất, cõi nước Cực lạc thành tựu như vậy là do công đức của đức Phật A Di Đà trang nghiêm.
Đại ý:
– Con số bảy là tượng trưng cho thất thánh tài: tín, giới, văn, tuệ, xã, tàm, quý.
– Tứ bảo là tượng trưng cho tứ như ý túc: dục, cần, tâm, tuệ.
– Hoa sen là tượng trưng cho sự thanh tịnh, tức giới hạnh cá nhân và đạo đức xã hội.
2.3) Sự sinh hoạt ở cõi Cực lạc:
Chánh văn:
又舍利弗,彼佛國土常作天樂,黃金為地,晝夜六時雨天曼陀羅華。其土眾生常以清旦各以衣祴盛眾妙華供養他方十萬億佛、即以食時、還到本國、飯食經行。舍利弗,極樂國土成就如是功德莊嚴。
Dịch nghĩa:
Lại nữa Xá Lợi Phất, cõi nước Phật ấy, đất bằng vàng ròng, thường trõi nhạc trời, ngày đêm sáu thời luôn luôn mưa hoa mạn đà la của trời. Chúng sanh nước ấy, cứ mỗi sáng sớm, mỗi người đều xách giỏ lượm đầy hoa đẹp ấy, trong thời gian bằng một bửa ăn, đem cúng dường chư Phật ở các thế giới khác, rồi trở về bổn quốc thọ trai và đi kinh hành. Xá Lợi Phất, cõi nước Cực lạc thành tựu như vậy là do công đức của đức Phật A Di Đà trang nghiêm.
Ý nghĩa:
Nhạc và hoa là hai biểu tượng cao quý và đẹp đẽ nhất của âm thanh và màu sắc. Trong thế giới này, hằng ngày chúng ta sống là tiếp xúc với thanh và sắc. Đỉnh cao của thanh và sắc được tượng trưng bằng hoa và nhạc thường thấy trong các nghi lễ hay trong sự giao tiếp long trọng để bày tỏ sự kính mến, ngưỡng mộ và thân thiện. Nên nhạc và hoa ở nước Cực lạc là sự phản ánh sinh hoạt cuộc sống hiện thực của thế giới chúng ta.
Lượm hoa trời đẹp đẽ vào mỗi sáng sớm đem dâng cúng chư Phật ở các thế giới khác là biểu tượng đem cõi lòng thanh khiết, cao đẹp làm Phật sự khắp nơi với tinh thần vô ngã vị tha, không có tâm phân biệt ngã, ngã sở. Hình ảnh dâng hoa cúng Phật còn hàm ý là gieo nhân ươm mầm Phật tánh cho mình cho người.
2.4) Thiên nhiên ở nước Cực lạc:
Chánh văn:
復次舍利弗,彼國常有種種其妙雜色之鳥﹕白鶴、孔雀、鸚鵡、舍利、迦陵頻伽、共命之鳥,是諸眾鳥晝夜六時出和雅音,其音演暢五根,五力,七菩提分,八聖道分,如是等法。其土眾生聞是音已,皆悉念佛,念法,念僧。舍利弗,汝勿謂此鳥實是罪報所生,所以者何?彼佛國土無三惡道。舍利弗,其佛國土尚無惡道之名,何況有實,是諸眾鳥皆是阿彌陀佛欲令法音宣流,變化所作。舍利弗,彼佛國土,微風吹動諸寶行樹及寶羅網出微妙音,譬如百千種樂同時俱作,聞是音者自然皆生念佛、念法、念僧之心。舍利弗,其佛國土成就如是功德莊嚴。
Dịch nghĩa:
Lại nữa Xá Lợi Phất, nước ấy thường có các loài chim nhiều màu kỳ diệu như chim oanh vũ, xá lợi, ca lăng tầng già, cộng mạng vv … Các loài chim này đêm ngày sáu thời, hót tiếng hòa nhã. Tiếng hót xướng lên như bài pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần. Chúng sinh ở cõi ấy nghe rồi đều phát tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Xá Lợi Phất, ông chớ cho rằng những loài chim ấy là do tội báo sinh ra. Vì sao vậy ? Vì ở cõi nước ấy không có ba ác đạo. Xá Lợi Phất, ở cõi Phật ấy cái tên ác đạo còn không có thì làm gì có ác đạo thật. Các loài chim này là do đức Phật A Di Đà biến hóa ra để làm cho pháp âm được lưu bố vậy. Xá Lợi Phất, cõi nước Phật ấy khi gió nhẹ thổi thì các hàng cây báu và các hàng lưới báu vang lên tiếng vi diệu giông như trăm ngàn thứ nhạc cụ cùng trỗi một lúc, làm cho ai nghe cũng tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Xá Lợi Phất, cõi nước Cực lạc thành tựu như vậy là do công đức của đức Phật A Di Đà trang nghiêm.
Ý nghĩa:
Đoạn 3: nói về chánh báo ở nước Cực lạc:
Đoạn này cũng được chia làm hai đoạn nhỏ:
3.1) Nói về chánh báo của Phật A Di Đà:
Chánh văn:
舍利弗,於汝意云何,彼佛何故號阿彌陀?舍利弗,彼佛光明無量照十方國無所障礙,是故號為阿彌陀。又舍利弗,彼佛壽命及其人民無量無邊阿增祇劫,故名阿彌陀。舍利弗,阿彌伐成佛已來於今十劫。
Dịch nghĩa:
Xá Lợi Phất, ông có nghĩ vì sao đức Phật ấy hiệu là A Di Đà không ? Vì đức Phật ấy có ánh sáng vô lượng chiếu khắp mười phươngcõi nước không bị chướng ngại nên hiệu là A Di Đà. Lại nữa Xá Lợi Phất, thọ mạng của đức Phật ấy và của nhân dân nước đó dài lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp nên gọi là A Di Đà. Xá Lợi Phất, đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã mười kiếp.
Ý nghĩa:
Được trường thọ là mong ước ngàn đời của con người. Có những người vùi cả cuộc đời mình trong lò luyện thuốc trường sinh. Hơi đau ốm một chút thì đã lo tìm thuốc chữa trị. Không có đất nước nào mà không có bộ y tế để chăm lo sức khỏe cộng đồng. Những điều đó đã chứng minh ý chí muốn sống là một thực tế xưa nay của nhân thế. Đoạn kinh này phản ánh được mong ước ý chí muốn sống thực tế của cuộc đời.
3.2) Nói về chánh báo của nhân dân nước Cực lạc:
Chánh văn:
又舍利弗,彼佛有無量無邊聲聞弟子,皆是大阿羅漢,非所算數之所能知,諸菩薩眾亦復如是。舍利弗,彼佛國土成就如是功德莊嚴。
Dịch nghĩa:
Lại nữa Xá Lợi Phất, đức Phật ấy có hàng đệ tử thanh văn đều là a la hán nhiều vô lượng vô biên không thể đếm kể hết được, và chúng Bồ tát cũng nhiều như thế. Xá Lợi Phất, cõi nước Cực lạc thành tựu như vậy là do công đức của đức Phật A Di Đà trang nghiêm.
Ý nghĩa:
Muốn sống lâu là một nguyện vọng chính đáng từ muôn thuở. Nhưng cuộc sống phải có ý nghĩa thì mới đáng sống, nếu sống như là sự chết mòn thì “còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi”. Sống lâu nhưng phaair sống vui, sống khỏe, sống có ích. Cuộc sống có ý nghĩa là cuộc sống có văn hóa, văn minh, có đời sông tâm linh tự tại, giải thoát, an lạc, thanh cao. Phản ánh quan điểm này, kinh nói ở Cực lạc hàng tăng lữ đều là thánh giả, nhân dân nước ấy thì đều được sống chung với các bậc thượng thiện nhân và đề phát tâm tu hành bất thối chuyển đối với đậo bồ đề vô thượng.
C. PHẦN TÍN NGUYỆN VÃNG SANH:
Phần này lại có thể chia thành 4 đoạn:
Đoạn 1: nói lợi ích và khuyên phát nguyện vãng sanh:
Đoạn này cũng có hai đoạn nhỏ:
1.1) Lợi ích khi được sinh về Cực lạc:
Chánh văn:
又舍利弗,極樂國土,眾生生者皆是阿陴跋致,其中多有一生補處,其數甚多非是筭數所能知之,但可以無量無邊阿增祇說。舍利弗,眾生聞者應當發願願生彼國,所以者何?得與如是諸上善人俱會一處。
Giải thích từ ngữ:
– A bệ bạt trí: (avaipapti), còn có phiên âm khác là a tỳ bạt trí, có nghĩa là bất thoái chuyển. Đó là ngôi vị Bồ tát đã trải qua một a tăng kỳ kiếp tu hành.
Dịch nghĩa:
Lại nữa Xá Lợi Phất, chúng sinh về thế giới Cực lạc đều là hạng bất thối chuyển. Trong đó đa số là những vị Bồ tát còn một đời là được bổ xứ làm Phật, số lượng này cũng rất nhiều không thể dùng toán số mà tính hết được, chỉ có thể nói là vô lượng vô biên a tăng kỳ mà thôi. Xá Lợi Phất, chúng sinh nếu ai đã nghe được kinh này thì nên phát nguyện sinh về nước ấy. Vì sao như vậy ? Vì sẽ được các bậc thượng thiện nhân ở chung một chỗ.
Ý nghĩa:
1.2) Khuyên nên phát nguyện vãng sinh:
Chánh văn:
舍利弗,不可以少善根福德人緣得生彼國。舍利弗,若有善南子,善女人聞說阿彌陀佛,執持名號,若一日,若二日,若三日,若四日,若五日,若六日,若七日,一心不亂,其人臨命終時,阿彌陀佛與諸聖眾現在其前,是人終時心不傎倒,即得往生阿彌陀佛極樂國土。舍利弗,我見是利,故說此言,若有眾生聞是說者應當發願生彼國土。
Dịch nghĩa:
Xá Lợi Phất, không thể đem một chút ít công đức thiện căn làm nhân duyên sinh về nước đó. Xá Lợi Phất, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào nghe danh hiệu đức Phật A Di Đà, chấp trì danh hiệu của ngài được nhứt tâm bất loạn trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hoặc bảy ngày thì khi lâm chung, người ấy được Phật A Di Đà và hàng thánh chúng hiện ra trước mặt. Lúc ấy tâm người lâm chung ấy không điên đảo, liền được vãng sinh qua nước Cực lạc của Phật A Di Đà. Xá Lợi Phất, ta thấy lợi ích như vậy nên nói lời nầy, nếu có chúng sanh nghe nói như vậy thì nên phát nguyện sinh về nước ấy.
Đoạn 2: Chư Phật tán dương và hộ niệm kinh và người thọ trì kinh này:
Đoạn này cũng được chia thành hai đoạn nhỏ:
2.1) Chư Phật tán dương và khuyến khích chúng sinh tin nhận kinh này:
Chánh văn:
舍利弗,如我今者讚炭阿彌陀佛不可思議功德之利,東方亦阿畜埤佛,須彌相佛,大須彌佛,須彌光佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國出廣長舌相遍覆三千大千世界,說成實言,汝等眾生當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗,南方世界有日月登佛,名聞光佛,大燄肩佛,須彌燈佛,無量精進佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國出廣長舌相遍覆三千大千世界,說成實言,汝等眾生當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍俐弗,西方世界有無量壽佛,無量相佛,無量幢佛,大光佛,大明佛,寶相佛,淨光佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國出廣長舌相遍覆三千大千世界,說成實言,汝等眾生當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗,北方世界有燄肩佛,最勝音佛,難沮佛,日生佛,網明佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國出廣長舌相遍覆三千大千世界,說成實言,汝等眾生當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗,下方世界有師子佛,名聞佛,名光佛,達摩佛,法幢佛,持法佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國出廣長舌相遍覆三千大千世界,說成實言,汝等眾生當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗,上方世界有梵音佛,宿王佛,香上佛,香光佛,大燄肩佛,雜色寶華嚴親佛,娑羅樹王佛,寶華德佛,見一切義佛,如須彌山佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國出廣長舌相遍覆三千大千世界,說成實言,汝等眾生當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
Dịch nghĩa:
Xá Lợi Phất, cũng như ta xưng tán về lợi ích công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, ở phương Đông cũng có các đức Phật nhiều như số cát sông Hằng, như Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm vv … Mỗi vị đều ở nơi quốc độ của mình hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới, nóilờichân thật rằng : Chúng sanh các ngươi hãy tin nơi kinh Xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm này.
Xá Lợi Phất, phương Nam cũng có chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, như Phật Nhựt Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn vv … Mỗi vị đều ở nơi quốc độ của mình hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới, nóilờichân thật rằng : Chúng sanh các ngươi hãy tin nơi kinh Xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm này.
Xá Lợi Phất, phương Tây cũng có chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, như Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang vv … Mỗi vị đều ở nơi quốc độ của mình hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới, nóilờichân thật rằng : Chúng sanh các ngươi hãy tin nơi kinh Xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm này.
Xá Lợi Phất, phương Bắc cũng có chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, như Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật Nhựt Sinh, Phật Võng Minh vv… Mỗi vị đều ở nơi quốc độ của mình hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới, nóilờichân thật rằng: Chúng sanh các ngươi hãy tin nơi kinh Xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm này.
Xá Lợi Phất, phương Hạ cũng có chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, như Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp vv … Mỗi vị đều ở nơi quốc độ của mình hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới, nóilờichân thật rằng : Chúng sanh các ngươi hãy tin nơi kinh Xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm này.
Xá Lợi Phất, phương Thượng cũng có chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, như Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhứt Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn vv … Mỗi vị đều ở nơi quốc độ của mình hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới, nóilờichân thật rằng : Chúng sanh các ngươi hãy tin nơi kinh Xưng tán bất khả tư nghị công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm này.
Ý nghĩa:
Chư Phật sáu phương đồng tán dương và hộ niệm là nêu sự ấn chứng cho kinh này để một lần nữa bồi dưỡng đức tin cho chúng sanh đối với thế giới Cực lạc.
2.2) Giải thích đề kinh và khuyên tín thọ:
Chánh văn:
舍利弗,於汝意云何,何故名為一切諸佛所護念經?舍利弗,若有善南子,善女人聞是經受持者,及聞諸佛名者,是諸善南子,善女人皆為一切諸佛之所護念,皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。是故舍利弗,汝等皆當信受我語及諸佛所說。
Dịch nghĩa:
Xá Lợi Phất, ông có biết vì sao kinh này có tên là “Nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm” không ? Xá Lợi Phất, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào nghe thọ trì kinh này cũng như thọ trì danh hiệu của Phật thì sẽ được tất cả chư Phật hộ niệm khiến cho đều sẽ không thối chuyển đối với quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên Xá Lợi Phất, các ông phải tin lời và lời của chư Phật đã nói.
Đoạn 3: Nói lợi ích và khuyên phát nguyện vãng sanh:
Chánhvăn:
舍利弗,若有人已發願,今發願,當發願欲生阿彌陀佛國者,是諸人等皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提,於彼國土若已生,若今生,若當生。是故舍利弗,諸善南子,善女人若有信者應當發願生彼國土。
Dịch nghĩa:
Xá Lợi Phất, nếu có người đã phát nguyện, đương phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi nước của Phật A Di Đà, những người ấy đều được tâm không thối chuyển đối với quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, chắc chắn đã được sinh, đương được sinh hoặc sẽ được sinh về cõi Phật ấy. Cho nên Xá Lợi Phất, các thiện nam tử, thiện nữ nhơn, nếu ai tin thì hãy phát nguyện sinh về nước ấy.
Đoạn 4: Sự khó nói, khó tin, khó hiểu của pháp môn tịnh độ:
Chánh văn:
舍利弗舍,如我今者稱讚諸佛不可思議功德,彼諸佛等亦稱讚我不可思議功德而作是言﹕“釋迦牟尼佛能為甚難稀有之事,能於娑婆國土五濁惡世﹕劫濁,見濁,煩瑙濁,眾生濁,命濁中得阿耨多羅三藐三菩提,為諸眾生說一切世間難信之法”。舍利弗,當知我於五濁惡世,行此難事,得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提,為一切世間說此難信之法,是為甚 難。
Dịch nghĩa:
Xá Lợi Phất, như ta tán thán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, các đức Phật kia cũng tán thán công đức không thể nghĩ bàn của ta rằng: “đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm được việc khó làm, có thể ở nơi thế giới Ta bà trong đời ác năm trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược mà thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì chúng sinh mà nói pháp tất cả thế gian khó tin này”. Xá Lợi Phất, nên biết ta ở nơi đời ác năm trược làm được việc khó làm này mà được bất thối chuyển đối với đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì tất cả thế gian mà nói pháp khó tin này là thật rất khó.
D. PHẦN LƯU THÔNG:
Chánh văn:
佛說此經已,利弗舍及諸比丘,一切世間,天,人,阿修羅等聞佛所說,歡喜信受,作禮而去。
Dịch nghĩa:
Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất, và các tỳ kheo, tất cả trời, người, a tu la vv… trong thế gian nghe Phật nói, đều hoan hỉ, tín thọ, đảnh lễ và lui ra.
Ý nghĩa chung toàn kinh:
Nước Cực lạc là cõi tịnh độ của Phật A Di Đà được nhìn từ hai mặt: tướng và tánh.Về tướng thì có một cõi Cực lạc ở phía Tây thế giới Ta bà cách mười vạn ức cõi Phật, nhưng về mặt tánh thì tam giới duy tâm, nên cõi tịnh độ ấy cũng chính là đây, chính ở tâm ta, “tự tánh Di Đà, duy tâm tịnh độ” mà ai muốn đến đó thì tu thanh tịnh tâm mình như lời Phật dạy “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”, vì “tùy kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh”. Điều này đã đượcTuệ Trung thượng sĩ nói là:
“Di Đà vốnthiệt pháp thân ta
Nam bắc đông tây khắp chói lòa
Trăng thu ngự giửatời cao rộng
Đêm lặng trường giang rạng chiếu soi”.
Pháp môn tịnh độ có tác dụng làm cho người tu sinh tâm hân yểm, tức là chán cõi Ta bà, thích cảnh Cực lạc, nhưng với tâm đại thừa thì nên chán mà không bỏ, do đó có thể sau khi sinh về Cực lạc lại hồi nhập Ta bà làm Phật sự, hay có thể vẫn ở Ta bà làm Phật sự xong sau đó mới sinh về Cực lạc. Như ngài A Nan đã phát nguyện “như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn” . Cả hai trường hợp đều được chư Phật hộ niệm nên đều cảm thấy an vui. Kinh A Di Đà chỉ nói một mặt thích cõi Cực lạc, nhưng như thế vô hình trung đã làm cho chúng sinh chán cõi Ta bà đầy dẫy năm trược này. Cực lạc là không khổ nên không có điều kiện cho lậu hoặc phát sinh. Như thế Cực lạc là cảnh giới niết bàn phi trạch diệt. Nhưng nếu ai phát nguyện ở cõi Ta bà làm Phật sự xong mới sinh về Cực lạc thì tự thân người đó đã thể nghiệm được niết bàn trạch diệt.
Đối với những ai sống theo sự lôi cuốn của dòng thác ngũ dục thì cõi Cực lạc rất là vô nghĩa, vì ở đó không có người nữ, không có đấu tranh, không có khổ đau gặm nhấm tâm hồn, hoa và nhạc đều toát ra hương vị giải thoát thánh thiện của Phật pháp. Là cảnh giới niết bàn phi trạch diệt nên đó là thượng thiện xứ của các bậc thượng thiện nhân. Các hiện tượng tự nhiên và xã hội nhân tạo ở đó không bao giờ là nhân tố tạo ra phiền não, nên đó đúng là một thế giới hoàn hảo cả ba mặt chân, thiện, mỹ.
Vì lợi ích như vậy nên Phật khuyên chúng ta nên cầu sinh tịnh độ và ngài đã huyền ký rằng sau khi Phật pháp suy tàn, do lòng từ bi, ngài vẫn làm cho kinh này tiếp tục lưu truyền hơn một vạn năm để cho ai có duyên sẽ còn có cơ hội tu tập giải thoát. Và sau cùng, khi kinh này không còn thì vẫn còn có bốn chữ A Di Đà Phật lưu truyền trong thế gian để làm phương thuốc pháp chữa trị thống khổ cho chúng sinh. Quả là như ngài Châu Hoằng đã tán dương “thao thiên chi tế thượng tác từ hàng, trường dạ minh đồ do hưng pháp cự” (đêm dài tăm tối đuốc tuệ rạng soi, nước lũ ngập trời chèo thuyền tế độ).
ĐỐI CHIẾU LỢI ÍCH Ở CỰC LẠC VỚI KHÓ KHĂN Ở TA BÀ:
Cực lạc : Ta bà:
1) – Y thực tự nhiên – Áo cơm ràng buộc
2) – Thọ mạng vô cùng – Uổng tử yểu vong
3) – Hội thiện tri thức – Bạn xấu dụ dỗ
4) – Thường nghe diệu pháp – Phật pháp nan văn
5) – Được bất thối chuyển – Chướng duyên thối thất
6) – Chư Phật hộ niệm – Ác ma mê hoặc
7) – Vô tam ác đạo – Ngũ thú tạp cư
8) – Thanh sắc trợ duyên – Ngũ dục lôi cuốn.
HỒNG DANH
Hồng danh là một bài sám văn được ngài Bất Động pháp sư thuộc phái Mật tông biên soạn. Toàn văn sám có thể chia làm bốn phần: 1. phần mở đầu, 2. phần lễ Phật, 3. phần sám hối, 4. phần hồi hướng.
Như vậy lễ Phật chỉ là một phần trong sám pháp, nên nếu cho rằng sám hối chỉ là lễ Phật thì chưa hoàn toàn xác đáng. Đứng về mặt nội dung thì sám pháp gồm có sáu phần là: tán dương, quy y, phát tâm, lễ bái, trần tình và hướng nguyện.
Lợi ích căn bản của sám hối là làm cho người có tội phát khởi niềm tin có thể diệt được lỗi lầm đã tạo:
“Tội tùng tâm khởi tương tâm sám,
Tâm nhược diệt thời tội diệt vong,
Tội vong tâm diệt lưỡng câu không,
Thị tắc danh vi chơn sám hối”
Trong kinh có kể chuyện vua A xà thế (Ajatasatu) và thầy Ương quật ma la la (Angulimala) là hai người phạm phải lỗi lầm to lớn. Vua A xà thế thì giết cha phạm tội ngũ nghịch, Ương quật ma la thì giết hại gần một ngàn người phạm tội hung ác. Nhưng sau khi được Phật giáo hóa nhờ biết ăn năn sám hối mà vua A xà thế thì nhổ bỏ được trọng tội, còn Ương quật ma la thì chứng quả a la hán.
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
Chánh văn:
大慈大悲愍眾生
大喜大捨濟含識
相好光明以自嚴
眾等至心皈命禮。
南無皈依金剛上師。皈依佛。皈依法。皈依僧。
我今發心不為自求人天福報,聲聞,緣覺乃至權乘菩薩,唯依最上乘發菩提心,願與法界眾生一時同得阿耨多羅三藐三菩提。
南無皈依十方盡虛空界一切諸佛。
南無皈依十方盡虛空界一切尊法。
南無皈依十方盡虛空界一切賢聖僧。
Phần này có thể được chia làm bốn đoạn:
1. Tán dương chư Phật: (bốn cậu kệ mở đầu): đại từ là ban vui cho tất cả chúng sanh, đại bi là cứu khổ cho tất cả chúng sanh,đại hỉ là niềm vui thanh thoát khi thấy chúng sanh hết khổ, đại xả là tâm không chấp trước, trải lòng từ bi bình đẳng đối với kẻ oán người thân.
Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm là khen ngợi hóa thân của Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp do Phật tự trang nghiêm bằng công đức tu hành trải qua ba a tăng kỳ kiếp.
Cuối cùng thể hiện lòng cung kính ngưỡng mộ của mình qua sự thành tâm đảnh lễ đức từ phụ Thế tôn.
2. Quy y tam bảo: “Nam mô quy y … quy y tăng”: Pháp sư Bất Động là một hành giả thuộc phái Mật tông nên quy y đảnh lễ đức Phật Kim Cang Thượng sư, tức đức Phật Tỳ lô giá na trước rồi sau mới quy y đảnh lễ tam bảo chung. Cũng như chúng ta thường xưng niệm danh hiệu đức Bổn sư Thích Ca trước vậy. Tiếp đó là quy y tam bảo gồm cả sự và lý. Quy y tam bảo là việc làm đầu tiên, quan trọng, căn bản và cân thiết đối với mọi Phật sự. Ở đây, quy y được đặt ra trước khi phát tâm, lễ sám, hồi hướng.
3. Phát bồ đề tâm: “Ngã kim phát tâm … tam bồ đề”: Phát tamm bồ đề là phát khởi tâm chí mong cầu giác ngộ cho mình và cho chúng sanh. Sự mong cầu ấy không phải là mơ ước viễn vông không tưởng mà được xây dựng trên cơ sở tâm cầu bồ đề vì tâm có bồ đề, mà tâm có bồ đề vì tâm là bồ đề. Khi tâm bồ đề được phát huy đến chỗ tột cùng thì gọi là tuệ giác vô thượng bồ đề, là Phật trí. Thành tựu Phật trí ấy là do tu Phật thừa, còn gọi là tối thượng thừa. Dừng lại ở các qủ vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát quyền thừa là còn mát kẹt ở hóa thành, chưa đến được bảo sở, chưa được gọi là tối thượng thừa.
4. Đảnh lễ tam bảo: (Ba câu cuối): Đảnh lễ tam bảo khắp cả mười phương, ba đời, cả sự lẫn lý. Hiền thánh tăng là chư tăng đã chứng quả tam hiền, thập thánh. Trước địa vị kiến đạo là hiền, sau địa vị kiến đạo là thánh.
II. PHẦN LỄ PHẬT:
Từ chỗ lễ mười đức hiệu của Phật đến lễ danh hiệu của Phật A Di Đà. Phần này cũng được chia làm bốn đoạn:
1. Lễ mười hiệu:
Chánh văn:
南無如來,應供,正遍知,明行足,善逝,世間解,無上士,調御丈夫,天人師,佛,世尊。
Giải thích từ ngữ:
Mười danh hiệu của Phật: Về nguồn gốc, theo truyền thuyết thì thuở kiếp sơ, một người có thể có tới hàng vạn danh hiệu, nhưng vì chúng sanh dần dần trở nên ngu độn nên giảm xuống còn 1.000 danh hiệu, như Đế thích có 1.000 danh hiệu. Theo phong tục Thiên trúc, một người có thể có tới 10 danh hiệu. Trên trời vì lợi căn, các thiên tử có 100 danh hiệu, như Đại Nhật như lai thành đạo trên trời nên có 108 danh hiệu. Đức Phật Thích Ca thành đạo ở cõi người, nên cũng ứng với cõi người mà có 10 danh hiệu. Đó là:
– Như lai: tiếng Phạn là Tathagatha, là một trong 10 hiệu của Phật, có nghĩa là người đến đúng với chân lý.
+ Theo kinh Kim cang bát nhã, Như Lai là Đấng không từ đâu đến và không đi về đâu (vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai).
+ Theo kinh Niết Bàn, Như Lai là Đấng nương đạo như thật mà thành chánh giác (thừa như thật đạo lai thành chánh giác, cố danh Như Lai).
+ Theo kinh Pháp hoa văn cú, Như Lai là Người đem đạo như thật hóa độ chúng sinh (thừa như thật đạo lai độ chúng sinh, cố danh Như Lai).
– Ứng cúng: tiếng Phạn là alaha,arhat. Đấng đáng dược hưởng sự cúng dường của trời, người nên gọi là ứng cúng.
– Chánh biến tri: tiếng Phạn là samaya-ksambouddha: Là bậc có chánh trí, biết rõ mọi pháp.
– Minh hạnh túc: tiếng Phạn là vidyâcaranasâmpana, hạnh tam minh cụ túc nên gọi là minh hạnh túc.
– Thiện thệ: tiếng Phạn là sugata, dùng nhất thiết trí làm cổ xe lớn đi trên con đường bát chính mà nhập niết bàn nên gọi là thiện thệ.
– Thế gian giải: tiếngPhạn là lokavid, hiểu được mọi sự của hữu tình và phi tình trong thế gian nên gọi là thế gian giải.
– Vô thượng sĩ: tiếng Phạn là anuhara, trong mọi pháp, niết bàn là vô thượng. Trong tất cả chúng sinh, Phật là vô thượng nên gọi là vô thương sĩ.
– Điều ngự trượng phu: tiếng Phạn là purusa-danya-sârạthi, đức Phật có lúc dùng lời dịu dàng, có lúc dùng lời tha thiết có khả năng điều khiển chế ngự được các đấng trượng phu nên gọi là điều ngự trượng phu.
– Thiên nhân sư: tiếng Phạn là sata devamansyanam, Phật là bậc đạo sư của người và trời, có thể dạy cho họ những điều gì nên làm, những điều gì không nên làm nên gọi là thiên nhân sư.
– Phật thế tôn: tiếng Phạn là bouddhalokânatha, nghĩa là tri giả hoặc thức giả. Thế tôn là được thế gian tôn trọng. Như vậy tthì trong này nếu tách Phật và Thế tôn ra sẽ có 11 danh hiệu.
Riêng Thành thật luận vv.. thì gộp Vô thượng sĩ và Điều ngự trượng phu lại làm một danh hiệu, nên tới Thế tôn là vừa vặn 10 danh hiệu và giải thích là vì có đủ 9 danh hiệu đầu sẽ được thế gian tôn trọng nên gọi là Thế tôn. Trong khi đó, Đại trí độ luận tách hai từ này ra giải thích riêng, tới Phật vừa đủ 10 danh hiệu, còn Thế tôn tách ra làm tôn hiệu riêng và giải thích vì có đủ đức của 10 hiệu trên nên gọi là Thế tôn.
2. Lễ 53 đức Phật: (từ Phật Phổ Quang đến Phật Nhứt Thiết Pháp Tràng Mãn Vương): Hồng danh của 53 đức Phật này từ trong kinh “Quán Dược Vương Dược Thợng Bồ tát”. Theo kinh này thì 53 vị Phật này thuộc đời quá khứ do Bồ tát Dược Thượng giới thiệu đến chúng sanh đời sau. Và sau đó Bồ tát Dược Thượng được các đức Phật từ Tỳ Bà Thi đến Ca Diếp khen ngợi, và đồng thời các dức Phật ấy cũng khuyến cáo chúng sanh nên biết công đức lợi ích lớn lao của những ai nghe được danh hiệu của 53 đức Phật này vì đều sẽ được trừ diệt tất cả các tội lỗi trong nhiều đời, kể cả tội tứ trọng, ngũ nghịch.
3. Lễ 35 đức Phật: (từ Phật Thích Ca đến Phật Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vương): Hồng danh của 35 đức Phật này đước trích ra từ trong kinh “Đại bảo tích”. Kinh dạy: “Tất cả chúng sanh nếu ai phạm tội ngũ nghịch, thập ác mà trong luật Phật không cho sám hối thì cũng vẫn có thể được đối trước 35 đức Phật này chí thành lễ lạy phát lồ sám hối, nhờ đó mà sẽ được thân tâm thanh tịnh, diệt trừ hết các tội chướng”. Như thế công đức của sự lễ lạy danh hiệu 35 đức Phật này là rất lớn.
4. Lễ đức Phật A Di Đà: Ngài là giáo chủ thé giới Cực lạc, là cõi tịnh độ được đức Thích Ca giới thiệu và khuyên chúng sanh ở cõi Ta bà “ngũ trược ác thế” này nên phát nguyện cầu sinh về cõi ấy như được nói trong kinh A Di Đà.
Pháp giới tàng thân là pháp thân biến mãn pháp giới, ở đâu và lúc nào cũng sẵn sàng thị hiện để tiếp độ chúng sanh hữu duyên với Phật A Di Đà và cảnh giới Cực lạc.
佛號彌陀法戒藏身隨處現,
國名極樂寂光真境個中玄。
Phật hiệu Di Đà pháp giới tàng thân tùy xứ hiện.
Quốc danh Cực lạc tịch quang chơn cảnh cá trung huyền.
Theo kinh Vô lượng thọ, Phật A Di Đà trước khi xuất gia là một vị quốc vương tên là Vô Tránh Niệm, khi đi tu lại có hiệu là Pháp Tạng tì kheo, rồi khi thành Phật thì hiệu là A Di Đà. Các danh hiệu Vô Tránh Niệm, Pháp Tạng, A Di Đà có quan hệ nhân quả với nhau về mặt ngữ nghĩa.
III. SÁM HỐI:
Phần văn sám hối có thể chia thành ba đoạn: phát lồ, thỉnh nguyện và hồi hướng theo hạnh nguyện Phổ Hiền.
1. Phát lồ:
Chánh văn:
如是等一切世界諸佛世尊常住在世。是諸世尊當慈念我。若我此生,若我前生,從無始生死以來,所作罪障﹕若自作,若教他作,見作隨喜。若塔,若僧,若四方僧物﹕若自取,若教他取,見取隨喜。五無間罪﹕若自作,若教他作,見作隨喜。十不善道﹕若自作,若教他作,見作隨喜。所作罪障,或有覆藏,或不覆藏,應墮地獄,餓鬼,畜生,諸餘惡趣,邊地下賤及蔑戾車,如是等處,今皆懺悔。
Giải thích từ ngữ:
– Vật của tháp: tháp là nơi thờ Phật hoặc xá lợi Phật, nên vật của tháp tức là vật của Phật.
– Vật của tăng: là vật của các vị Hòa thượng, a xà lê, của mõi thành viên tăng.
– Vật của tăng bốn phương: cũng tức là của tăng mười phương, tức của chung của chư tăng. Đó là vật của chùa.
– Biên địa: nơi biên cương, cách xa trung tâm của đất nước thường là nơi nghèo nàn thiếu thốn và lạc hậu về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần.
– Miệt lệ xa: đọc theo phiên âm tiêng Phạn (?), chỉ những nơi biên địa hạ tiện. Những nơi không những thiếu ánh sáng văn minh soi đến mà ánh sáng chánh pháp cung không truyền đến được.
Dịch nghĩa:
Các đức Phật Thế tôn thường trú trong tất cả các thế gới như vậy, nguyện xin các Ngài thương xót cho chúng con. Tất cả những yội chướng mà con đã tạo ra hoặc ở đời này, hoặc ở đời trước, hoặc từ nhiều kiếp sinh tử từ vô thỉ đến nay; hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, hặc thấy người khác làm mình tùy hỉ đòng tinh theo. Đối với những vật của tháp, những vật của tăng hoặc của chư tăng trong mười phương, hoặc tự mình lấy, hoặc bảo người khác lấy, hoặc thấy người khác lấy mình tùy hỉ đồng tình theo. Đối với những tội phải đòa địa ngục vô gián, hoặc tự tạo, hoặc bảo người khác tạo, hoặc thấy người khác tạo mà mình tùy hỉ đồng tình theo. Đối với mười nghiệp bất thiện, hoặc tự tạo, hoặc bảo người khác tạo, hoặc thấy người khác tạo mà mình tùy hỉ đồng tình theo. Những tội đã làm ấy hoặc có che dấu, hoặc không che dấu, đáng phải rơi vào địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh và các ác thú khác như biên địa, hạ tiện hoặc nơi man dã. Nhữngtội đã tạo sẽ phải rơi vào những nơi ấy, ngày nay đều xin sám hối.
Đại ý:
Theo đoạn văn trên, những tọi đã tạo gồm có tội lấy cắp vật của tam bảo, tội ngũ nghịch, tội thập ác. Cả ba thứ tội trên đều có ba trường hợp phạm là tự mình làm, bảo người khác làm và thấy người khác làm mình tùy hỉ đồng tình theo. Và khi đã phạm thì lại có trường hợp đã phát lộ, cũng có trường hợp che dấu không phát lộ. Điều quan trọng là loại tội nào cũng nặng mà hậu quả của chúng là đều có thể khiến cho phạm nhân sa vào ba đường ác hoặc phải tái sanh vào những nơi biên địa hạ tiện dã man.
2. Thỉnh nguyện:
Chánh văn:
今諸佛世尊當證知我,當憶念我。我伏於諸佛世尊前作如是言﹕若我此生,若我餘生,曾行布施,或守淨戒,乃至施與畜生一摶之食。或修淨行所有善根,成就眾生所有善根,修行菩提所有善根,及無上智所有善根,一切合集,校計籌量,皆悉回向阿耨多羅三藐三菩提。如過去,未來,現在諸佛所作回向,我亦如是回向,眾罪皆懺悔,諸福盡隨喜,及請佛功德,願成無上智。去來現在佛,於眾生最勝,無量功德海,我今歸命禮。
Dịch nghĩa:
Nay cúi xin chư Phật Thế tôn chứng biết cho con, thương tưởng đến con. Con xin cúi đầu trước chư Thế tôn mà tác bạch rằng: Hoặc ở đời này, hoặc trong đời khác, tất cả bao nhiêu thiên căn có được do con đã từng làm những việc bố thí, hoặc giữ giới thanh tịnh, cho đến bố thí cho chúng sanh một nắm thức ăn, hoặc thực hành các hạnh thanh tịnh; tất cả bao nhiêu thiện căn do sự tác thành tuệ giác, thành tựu Phật trí cho chúng sanh, con xin đều tính toán suy nghĩ tìm cách gom góp tát cả lại để đem hồi hướng về nơi quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Như các đức Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai đã thực hạnh hạnh hồi hướng, con cũng tu hạnh hồi hướng như vậy. Sám hối các tội lỗi, phước đức đều tùy hỉ, và công đức thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân đều hồi hướng để nguyện thành vô thượng trí. Chư Phật trong ba đời, tối thắng trong chúng sanh, biển công đức vô lượng, con nay xin đảnh lễ.
Đại ý:
Trong các hạnh được đem ra để thỉnh cầu chư Phật gia bị và phát nguyện hồi hướng đại để là gồm các việc tu hạnh bố thí trong đó gồm tài thí và pháp thí, tu tịnh hạnh tức trì giới thanh tịnh, thành tựu chúng sanh tức là làm cho chúng sanh đều biết thực hành 37 phẩm trợ đạo để trang nghiêm Phật độ, thành tựu Phật trí tức là thành tựu tuệ giác vô thượng chánh đẳng bồ đề. Đem bốn công hạnh này cùng với việc sám hối tội lỗi, tùy hỉ công đức, thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân đều hồi hướng để dẫn đến sự hồi hướng theo mười đại hạnh của Bồ tát Phổ Hiền tiếp theo sau đây.
3. Hướng nguyện theo 10 hạnh của Bồ tát Phổ Hiền:
Mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền này được trích ra từ phẩm Phổ Hiền trong kinh Hoa nghiêm. Trong kinh nêu đầy đủ 10 đại nguyện, nhưng ở đây chỉ trích ra có tám đại nguyện như sau:
3.1. Lễ kính chư Phật:
Chánh văn:
所有十方世戒中
三世一切人師子
我以清淨身語意
一切遍禮盡無餘
普賢行願威神力
普現一切如來前
一身伏現剎塵身
一一遍禮剎塵佛。
Dịch nghĩa:
Hết thảy chư Phật trong ba đời
Cùng khắp pháp giới cả mười phương
Con nay đem ba nghiệp thanh tịnh
Kính lễ tất cả không thiếu sót.
Nương sức hạnh nguyện của Phổ Hiền
Hiện thân trước tất cả chư Phật
Một thân lại hiện sát trần thân
Mỗi thân đảnh lễ sát trần Phật.
3.2. Xưng tán Như Lai:
Chánh văn:
於一塵中塵數佛
各處菩薩眾會中
無盡法戒塵亦然
深信諸佛皆充滿
各以一切音聲海
普出無盡妙言詞
盡於未來一切劫
讚佛甚深功德海。
Dịch nghĩa:
Một vi trần có vô số Phật
Mỗi vị ở trong chúng Bồ tát
Vi trần trong pháp giới cũng vậy
Lòng con tin Phật thật sâu dày
Đem hết âm thanh như biển cả
Làm thành ngôn ngữ đẹp vô cùng
Để khen công đức sâu như biển
Của Phật đến tận kiếp vị lai.
Ý nghĩa:
Khen Phật theo hạnh nguyện Phổ Hiền thì không chỉ khen đức giáo chủ của chúng ta, hoặc khen đức bổn tôn tịnh độ A Di Đà, mà khen chư Phật với số lượng nhiều như số vi trần của số thế giới nhiều như vi trần trong pháp giới. Lấy số vi trần trong một thế giới làm đơn vị, mỗi vi trần là một thế giới, trong đó có một đức Phật đang ở trong chúng hội Bồ tát. Tất cả vi trần trong vô lượng thế giới cũng vậy. Đối với số lượng chư Phật nhiều như vậy, con đều phát khởi lòng tin sâu xa bất động, dùng âm thanh nhiều như biển cả để tán dương công đức sâu rộng của các Ngài.
3.3. Cúng dường chư Phật:
Chánh văn:
以諸最勝妙華鬘
伎樂塗香及搡蓋
如是最勝莊嚴具
我以供養諸如來
最勝衣服最勝香
末香燒香與燈燭
一一皆如妙咎聚
我悉供養諸如來
我以廣大勝解心
深信一切三世佛
悉以普賢行願力
普遍供養諸如來。
Dịch nghĩa:
Nhờ vào nguyện lực đức Phổ Hiền
Cúng dường Dùng các vòng hoa đẹp hơn hết
Âm nhạc, dầu thơm và tán lọng
Những thứ trang sức tối thắng ấy
Con đem cúng dường chư Như Lai
Y phục, hương thơm quý giá nhất
Hương bột, hương đốt cùng đèn đuốc
Chất đống nhiều như núi Diệu cao
Con đều đem cúng Phật tất cả
Dùng tâm hiểu biết rộng lớn nhất
Tin sâu tất cả ba đời Phật
khắp tất cả chư Phật
Giải thích từ ngữ:
– Kỹ nhạc: là biểu diễn âm nhạc, chỉ chung cho các loại hình nghệ thuật sân khấu.
– Hương xoa: chỉ chung cho tất cả các thứ dầu thơm, phấn sáp.
– Diệu cao: núi Tu di.
– Quảng đại thắng giải tâm: tâm trí hiểu biết rộng rãi, sâu sắt hơn hết.
3.4. Sám hối nghiệp chướng:
Chánh văn:
我積所造諸惡業
皆由無始貪瞋癡
從身語意之所生
一切我今皆懺悔。
Dịch nghĩa:
Đều Con xưa đã tạo các vọng nghiệp
do vô thỉ tham sân si
Từ thân miệng ý phát sinh ra
Tất cả con nay xin sám hối.
3.5. Tùy hỉ công đức:
Chánh văn:
十方一切諸眾生
二乘有學及無學
一切如來與菩薩
所有功德皆隨喜。
Dịch nghĩa:
Bao nhiêu công đức của chúng sinh,
Của hàng nhị thừa: học, vô học,
Của Phật, Bồ tát khắp mười phương
Tất cả con đều xin tùy hỉ.
3.6. Thỉnh chuyển pháp luân:
Chánh văn:
十方所有世間燈
最初成就菩提者
我今一切皆甽請
轉於無上妙法輪。
Dịch nghĩa:
Mười phương đâu có đèn thế gian
Mới vừa thành tựu đạo giác ngộ
Con đều thỉnh tất cả các Ngài
Chuyển bánh xe diệu pháp vô thượng.
3.7. Xin Phật trụ thế:
Chánh văn:
諸佛若欲示涅槃
我悉至成而勸請
唯願久住剎塵劫
利樂一切諸眾生。
Dịch nghĩa:
Chư Phật nếu sắp vào niết bàn
Thì con chí thành thỉnh các Ngài
Xin trụ lại đời vi trần kiếp
Để làm lợi lạc cho chúng sinh.
3.10. Khắp đều hồi hướng:
Chánh văn:
所有禮讚供養福
請佛住世轉法輪
隨喜懺悔諸善根
回向眾生及佛道。
Dịch nghĩa:
Bao nhiêu thiện căn do lễ Phật
Khen, cúng, sám hối và tùy hỉ,
Thỉnh chuyển pháp luân và trụ thế
Đều hướng chúng sinh thành Phật đạo.
Sau đây là hai bài kệ nói về hai đại nguyện thứ támvà thứ chín của Phổ Hiền ở trong kinh Hoa Nghiêm nhưng không được soạn giả trích ra. Nay xin nêu ra để tham khảo.
3.8. Thường theo Phật học:
過現未來人天師
一切意樂皆圓滿
我願普隨三世學
速得成就大菩提。
Dịch nghĩa:
Chư Phật quá hiện và vị lai
Tất cả ý nguyện đều đầy đủ
Con xin theo học khắp ba đời
Mau được thành tựu đạo giác ngộ
3.9. Hằng thuận chúng sanh:
Chánh văn:
我常隨順諸眾生
盡於未來一切劫
恆修普賢廣大願
園滿無上大菩提。
Dịch nghĩa:
Con luôn thuận theo các chúng sinh
Cho đến cùng tận đời vị lai
Tu theo nguyện lớn của Phổ Hiền
Cho quả đại giác được tròn đủ.
IV. HỒI HƯỚNG:
Đây là phần cuối của sám văn do chính ngài Bất Động tự soạn gm 16 câu 4 bài kệ, có thể chia làm ba đoạn theo nội dung như sau:
1. Hồi hướng lên ngôi tam bảo:
Chánh văn:
願將以此勝功德
回向無上真法界
性相佛法及僧伽
二諦融通三昧印
如示無量功德海
我今皆悉盡回向。
Dịch nghĩa:
Nguyện đem công đức thù thắng này
Hướng về Phật Pháp Tăng vô thượng
Cả tướng lẫn tánh trong pháp giới
Định ấn dung thông chơn tục đế
Biển công đức vô lượng như vậy
Nay con đều xin hồi hướng hết.
2. Hồi hướng cho tất cả chúng sanh:
Chánh văn:
所有眾生身口意
見惑彈謗我法等
如示一切諸業障
悉皆銷滅盡無餘
念念智周於法界
廣度眾生皆不退。
Dịch nghĩa:
Chúng sinh đều từ thân khẩu ý
Tạo mười nghiệp ác bỡi kiến hoặc
Bao nhiêu nghiệp chướng đã tạo ra
Thảy đều trừ sạch không còn sót
Mỗi niệm đều dùng trí soi khắp
Độ chúng sinh đều được bất thối.
3. Tính cách quảng đại của sự hồi hướng:
Chánh văn:
乃至虛空世界盡
眾生及業煩瑙盡
如示四法廣無邊
願今回向亦如是。
Dịch nghĩa:
Hư không, thế giới có cùng tận,
Chúng sinh, hoặc, nghiệp có cùng tận,
Bốn pháp vô tận ấy dù tận
Sự hồi hướng con vẫn vô tận.
Kết thúc sám văn bằng câu niệm danh hiệu Bồ tát Phổ Hiền:
南無大行普賢菩薩。
Sám hối là một trong mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền. Nội dung sám hối gồm các mục tán Phật, quy y, phát nguyện, lễ Phật, thỉnh nguyện, hồi hướng. Trong đó hướng nguyện theo mười hạnh của Phổ Hiền là muốn noi theo hạnh nguyện của Ngài để tinh cần hành đạo, và cũng nguyện nhờ thần lực của Ngài hộ niệm để Phật sự của mình với hạnh nguyện đầy đủ được thành tựu viên mãn, nên cuối cùng niệm danh hiệu của Ngài để luôn luôn tâm niệm đến ssở nguyện của mình.
MÔNG SƠN THÍ THỰC
Văn Mông sơn thí thực cũng do ngài Bất Động pháp sư biên soạn nhưng đề bút hiệu là Cam Lộ pháp sư.
Mông sơn là tên một quả núi ở huyện Danh sơn, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc. Tương truyền, núi này có năm ngọn, ngọn cao nhất là Thượng thanh phong. Trên đỉnh Thượng thanh phong có một tảng đá lớn. Ơí những kẻ nứt của tảng đá mọc lên bảy cây chè mà tương truyền là do ngài Cam Lộ trồng. Trà này ít đọt vì mọc trên đá nhưng phẩm chất thơm ngon quý giá vô cùng và hiện nay vẫn nổi danh là trà Mông đảnh. Ngoài ra, ở tỉnh Sơn đông cũng có núi Mông sơn gồm 72 ngọn chạy dài thành một dãy 20 dặm. Trên đó cũng có chùa và cũng có trồng trà. Nhưng Mông sơn nói ở đây là núi thuộc tỉnh Tứ xuyên.
Thí thực là cho ăn. Trong lục độ, bố thí đứng đầu. Bố thí có tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí nói chung là cung cấp các nhu cầu vật chất, trong đó nhu cầu ăn uống là trước hết. Kinh dạy: “nhứt thiết chúng sanh giai y ẩm thực”. Trong tứ sự cúng dường, ẩm thực cũng được xếp trước. Nhất là đối với loài ngạ quỷ trong địa ngục thì đói khát là cái khổ bức ngặt nhất nên cần được cho ăn uống trước hết.
Sau khi tụng kinh A Di Đà và Hồng danh sám hối, để cho hành giả tăng ích từ tâm, khắp lợi hàm thức, Cam Lộ pháp sư soạn thêm văn Mông sơn thí thực này để cầu cho âm siêu dương thái. Văn Mông sơn này được căn cứ nơi bộ “Thủy thí thực” trong Mật tạng và kinh “Cứu bạt diệm khẩu quỷ vương” để soạn ra.
Toàn văn Mông sơn thí thực có thể chia ra làm ba phần: văn thí thực, xưng tán và niệm Phật, hồi hướng. Nhưng hai phần sau cũng có thể xem là phần phụ lục, còn phần đầu mới là phần chính. Phần văn Thí thực này bắt đầu từ bài kệ Duy tâm được trích ra từ kinh “Hoa nghiêm” cho đến bài kệ Cát tường và bài kệ Chúc nguyện tứ sanh tam hữu. Trong phần này có hai đoạn cần khảo sát là bài kệ Duy tâm và bài kệ Cát tường, tức là phần mở đầu và phần kết thúc của phần này. Các phần khác có thể lược qua không cần giải thích. Còn bài chú Bát nhã thì đã giải thích ở trong Thời công phu khuya rồi.
I. PHẦN VĂN THÍ THỰC:
1. Bài kệ Duy tâm:
Chánh văn:
若人欲了知
三世一切佛
應觀法界性
一切唯心造。
Dịch nghĩa:
Nếu muốn biết rõ về ba đời chư Phật thì hãy quán bản chất của pháp giới tất cả đều do tâm tạo.
Đây là bài kệ do Bồ tát Giác Lâm tuyên thuyết để tán dương Phật trong khi đến dự pháp hội Hoa nghiêm tại cung trời Dạ ma.
Pháp giới là cõi pháp, là biên giới của pháp. Nhưng pháp thì không có bên giới vì theo định nghĩa, pháp là bất kỳ cái gì có thể biểu hiện được tính cách riêng của nó làm cho phân biệt được nó với cái khác. Như thế thì không có cái gì không phải là pháp, nên pháp giới là vô cùng vô tận của không gian và thời gian. Trong pháp giới bao quát cả tứ thánh lục phàm gọi là thập pháp giới. Hiện tượng trong pháp giới tuy có ngàn sai muôn khác nhưng tất cả đều có cùng tính chất đó là “duy tâm tạo”. Như kinh Lăng nghiêm nói: “chư pháp sở sinh duy tâm sở hiện”.
Dùng bài kệ Duy tâm để mở đầu văn Thí thực là có mục đích khai thị cho chúng sinh thuộc loài ngạ quỷ cô hồn đang chìm trong ba ác đạo biết các khổ báo mà mình đang thọ lãnh là do tâm mình tạo ra. Lý tánh pháp giới không có tứ thánh lục phàm, không có niết bàn sinh tử. Ngộ được lý ấy thì tất cả khổ đau trong tam đồ lục đạo đều tiêu tan hết. Như kinh Lăng nghiêm nói: “nhứt nhơn phát tâm quy nguyên, thập phương thế gới tận thành tiêu vẫn”. Cổ nhân có kệ:
十班法界畫成圖
直指人心見者無
四聖六凡隨業幻
浮雲散盡月輪孤。
Trong hai thời khóa tụng hiện nay, trước bài kệ duy tâm này còn có một bài kệ mở đầu như sau:
Chánh văn:
皿火焰焰照鐵城
鐵城裏焰熱孤魂
孤魂若要生淨土
適誦華嚴半偈經。
Dịch nghĩa:
Cô hồn đang bị giam trong địa ngục thiết vi chịu cái khổ lửa dữ thiêu đốt. Nếu muốn sinh về tịnh độü thì hảy mau tụng bài kệ Duy tâm trong kinh Hoa nghiêm. Thậm chí tụng nửa bài cũng được lợi ích.
2. Bài kệ Cát tường:
Chánh văn:
願晝吉祥夜吉祥
晝夜六時恆吉祥
一切時中吉祥者
願諸上師哀攝受。
願晝吉祥夜吉祥
晝夜六時恆吉祥
一切時中吉祥者
願諸三寶哀攝受。
願晝吉祥夜吉祥
晝夜六時恆吉祥
一切時中吉祥者
願諸護法哀攝受。
Ý nghĩa:
Bài nguyện này có nội dung cầu nguyện luôn luôn được an lành nhờ sự gia hộ của Tam bảo và chư vị Hộ pháp. Thượng sư là đức Phật Kim Cang thượng sư, tức là đức Đại Nhựt như lai Tỳ lô giá na, tức là pháp thân Phật. Tam bảo là ba ngôi báu Phật, pháp, tăng bao gồm sự lý, tướng tánh. Hộ pháp là chư thiên long bát bộ có lòng hộ trì chánh pháp và người thực hành chánh pháp.
Sau bài kệ Cát tường còn có bài Nguyện chúc tứ sanh tam hữu:
Chánh văn:
四生登於寶地,三有托化蓮,河沙餓鬼證三賢,萬類有情登十地。
Giải thích:
Bốn loài là noãn, thai, thấp, hóa. Ba cõi là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Bảo địa là đất Phật. Thác hóa hóa liên trì là về gá nơi hoa sen, tức là liên hoa hóa sinh. Ngạ quỷ là quỷ đói, thực trong đó gồm cả thần kỳ, phi nhân. Ngạ quỷ có ba loại chín phẩm:
Ba loại ngạ quỷ: là vô tài, thiểu tài và đa tài.
a) Vô tài: có 3 phẩm: xú khẩu, cự khẩu, châm yết.
b) Thiểu tài: có 3 phẩm: châm mao, xú mao, đại anh (bứu cổ).
c) Đa tài: có 3 phẩm: hy từ, hy khí, đại thế.
II. PHẦN TÁN PHẬT VÀ NIỆM PHẬT:
Trong phần này chúng ta chỉ học bài tán lễ đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực lạc phương tây và bài cảnh sách vô thường. Còn phần niệm Phật thì thông qua.
1. Tán Phật:
Chánh văn:
讚禮西方極樂清涼,
蓮池九品華香,
寶樹成行,常聞 天樂鍵鏘,
阿彌陀佛大放詞光,
化度眾生,無量降吉祥,
現前眾等歌揚,願生安養,
現前眾等歌揚,同生安養。
Dịch nghĩa:
Tán dương kính lễ cõi Cực lạc phương tây thanh thoát.
Trong hồ sen mát có hoa sen chín từng thơm ngát.
Cây báu xếp hàng, gió thổi thường trổi lên nhạc trời réo rắt.
Đức Phật A Di Đà phóng đại hào quang từ bi chói rạng.
Giáo hóa chúng sanh, Ngài ban cho vô lượng điều an lạc.
Hiện nay chúng con tán dương xin nguyện được sinh về thế giới an lạc.
Hiện nay chúng con tán dương xin nguyện cùng sinh về thế giới an lạc.
2. Cảnh sách vô thường:
Chánh văn:
是日已過,命亦隨減,如少水魚,斯有何樂。大眾當勤精進,如救頭燃,但念無常,慎勿放逸。
Dịch nghiã:
Ngày này đã qua, mạng sống cũng bớt.
Như cá thiếu nước, đâu có vui gì.
Đại chung phải siêng năng tinh tấn,
Chỉ nghĩ đến vô thường, chớ có buông lung.
III. PHẦN SÁM NGUYỆN VÀ HỒI HƯỚNG:
A. Sám nguyện:
Trong phần sám nguyện, ta chỉ học bài sám Tây phương nguyện văn mà thường được gọi là sám Khể thủ do ngài Vân Thê Liên Trì sáng tác với nội dung gồm bốn phần: cầu sinh tịnh độ, sám hối nghiệp chướng, cầu Phật gia bị và phát nguyện độ sanh. Rồi sau đó có hai bài đọc thêm là bài sám Nhất Tâm của ngài Từ Vân và bài Chúc nguyện hộ pháp.
西方願文雲棲蓮池造
TÂY PHƯƠNG NGUYỆN VĂN.
Vân Thê Liên Trì tạo
1. Cầu sinh tịnh độ:
a) Phát nguyện vãng sanh:
Chánh văn:
稽首西方安樂國
接引眾生大導師
我今發願願往生
唯願詞悲哀攝受。
Ý nghĩa:
Hai câu đầu có nghĩa là kính lễ dức Phật A Di Đà ở Cực lạc phương tây là vị đạo sư vĩ đại có bản nguyện tiếp dẫn chúng sinh về thế giới ấy.
Hai câu sau nói sự phát nguyện vãng sinh và cầu xin Phật nhiếp thọ.
b) Mục đích vãng sinh:
Chánh văn:
弟子眾等普為四恩三有,法界眾生,求於諸佛一乘無上菩提道故,尃心持念阿彌陀佛萬德洪名,求生淨土。
Dịch nghĩa:
Đệ tử chúng con khắp vì bốn ân trong ba cõi, chúng sanh trong pháp giới mà cầu đạo giác ngộ nhứt thừa vô thượng của chư Phật nên chuyên tâm trì niệm vạn đức hồng danh của đức Phật A Di Đà để cầu sanh tịnh độ.
Giải thích:
Nói mục đích cầu sinh tịnh độ là muốn cầu đạo quả vô thượng bồ đề cho mình và cho tất cả bốn ân ba cõi pháp giới chúng sanh. Muốn sinh về tịnh độ để có đủ thuận duyên hoàn thành mục đích ấy, cần chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà.
2. Sám hối nghiệp chướng:
Chánh văn:
又以業重福輕,障深慧淺,染心易熾,淨德難成,今於佛前,翹勤五體,披瀝一心,投誠懺悔。我及眾生曠劫至今,迷本淨心,縱貪瞋癡,染穢三業。無量無邊所作罪垢,無量無邊所結冤業,願悉消滅。從於今日立深誓願﹕遠離惡法誓不更造,勤修聖道誓不退惰。誓成正覺,誓土眾生。
Dịch nghĩa:
Lại tự xét thấy vì nghiệp dày phước mỏng, chướng nặng tuệ nông, tâm ô nhiễm dễ phát triển, đức thanh tịnh khó thành tựu. Nay đối trước chư Phật, năm vóc chí thành đảnh lễ, tinh tấn một lòng phát lộ bày tỏ lỗi lầm, ăn năn sám hối: con và chúng sinh nhiều kiếp đến nay vì mê tự tánh của chình, buông lung theo tham sân si, làm cho ba nghiệp thân khẩu ý vị nhiễm ô, tạo ra vô lượng vô biên tội lỗi nhơ bẫn, kết thành vô lượng vô biên oan nghiệp, nay nguyện đều tiêu diệt hết. Từ nay trở đi xin lập nguyện sâu sắc: nguyện xa tội ác, thệ không tái phạm; nguyện siêng tu thánh hạnh, thề không lười biếng thối lui; nguyện thành chánh giác, nguyện độ chúng sanh.
Giải thích:
Nhưng như kinh nói, không thể đem chút ít thiện căn, phước đức làm nhân duyên sinh về Cực lạc được, mà nay tự xét mình nhiều kiếp về trước đã tạo ra biết bao nhiêu tội lỗi, gây nên biết bao nhiêu oan nghiệp, nên nay xin chí thành sám hối những nghiệp chướng ấy và phát nguyện thành Phật để hóa độ chúng sinh, lấy đó làm hành trang đầu tiên để cầu sinh tịnh độ.
3. Cầu Phật gia bị:
Đoạn này có thể chia làm bốn đoạn nhỏ:
a) Cảm nhận lợi ích:
Chánh văn:
阿彌陀佛以慈悲願力當證知我,當哀愍我,當加被我,願禪觀之中,夢咪之際,得見阿彌佛金色之身,得歷阿彌陀佛寶嚴之土,得蒙阿彌陀佛甘露灌頂,光明照身,手摩我頭,衣覆我體,使我宿障自除,善根增長,疾空煩惱,頓破無明,圓覺妙心廓然開悟,寂 光真境常得現前。
Dịch nghĩa:
Ngưỡng mong đức Phật A Di Đà dùng sức nguyện từ bi chứng biết cho con, thương xót cho con, gia hộ cho con; nguyện con trong khi thiền quán cũng như trong lúc chiêm bao đều được thấy thân sắc vàng của đức Phật A Di Đà, được dạo đi trong cõi nước trang nghiêm quý báu của Phật A Di Đà, được Phật A Di Đà đem nước cam lồ rảy lên trán con, phóng hào quang chiếu khắp thân con, lấy tay xoa đầu con và lấy y che người cho con, làm cho những chướng duyên đời trước của con được tịnh trừ, căn lành thêm lớn, lập tức liền trừ sạch phiền não, phá hết vô minh, tâm viên giác vi diệu rổng rang tỏ ngộ, cảnh tịch quang chân thật luôn hiện trước mặt.
Đại ý:
Nguyện cho hiện tại cảm nhận được những lợi ích của cảnh giới Cực lạc.
b) Biết trước giờ chết:
Chánh văn:
至於臨欲命終預知時至,身無一切病苦厄難,心無一切貪戀迷惑,諸根悅預,正念分明,捨報安祥如入禪定。
Dịch nghĩa:
Đến khi sắp lâm chung, biết trước giờ chết, thân không có tất cả bệnh khổ làm đau đớn, tâm không bị tất cả sự tham luyến làm mê mờ, các căn thư thái, chánh niệm rõ ràng, xả bỏ báo thân an lạc tự tại như vào thiền định.
Đại ý: nguyện phút lâm chung biết trước giờ chết, thân tâm an lạc.
c) Vãng sinh Cực lạc:
Chánh văn:
阿彌陀佛與觀音,勢至,諸聖賢眾放光接引,垂手提攜。樓閣、幢幡、異香、天樂,西方聖境照示目前,令諸眾生見者,聞者,歡喜感歎,發菩提心。我於爾時,乘金剛臺,隨從佛後,如彈指頃生極樂國,七寶池內勝蓮華中,華開見佛,見諸菩薩,聞妙法音, 鑊無生忍。
Dịch nghĩa:
Lúc đó đức Phật A Di Đà cùng đức Quan Thế Âm, Đại Thếï Chí và chư thánh hiền phóng hào quang tiếp độ, đưa cánh tay dắt dẫn, lầu đài, cờ phướng, hương lạ, nhạc trời, cảnh Phật phương tây bày ra trước mắt, làm cho những người được thấy được nghe đều vui mừng, cảm kích, khen ngợi và phát tâm bồ đề. Phần con lúc này nương đài kim cang đi theo sau Phật, chỉ trong khoãn khắc như khảy móng tay sanh trong hoa sen xinh đẹp bậc nhất trong ao bảy báu ở nước Cực lạc, hoa nở thấy Phật, thấy các Bồ tát, nghe tiếng pháp mầu, chứng quả sinh.
Đại ý: sau khi lâm chung được Phật và thánh chúng tiếp dẫn về Cực lạc, hóa sinh trong hoa sen ở ao bảy báu.
d) Thành tựu thánh quả:
Chánh văn:
於須臾間,承事諸佛,親蒙授記,得授記已,三身,四智,五眼,六通,無量百千陀羅尼門,一切功德皆悉成就。
Dịch nghĩa:
Trong một khoảnh khắc, được thừa sự chư Phật, tự mình được Phật thọ ký, sau khi được thọ ký, thì đều được thành tựu tất cả công đức như ba thân, bốn trí, ngũ nhãn, lục thông và vô lượng trăm ngàn pháp môn đà la ni.
Đại ý: sau khi hóa sinh được thấy pháp, nghe pháp, tu tập thành tựu thánh quả.
4. Phát nguyện lợi tha:
Chánh văn:
然後不違安養,回入娑婆,分身無數遍十方剎,以不可思議自在神力種種方便度脫眾生咸令離染,還得淨心,同生西方,入不退地。如是大願,世界無盡,眾無盡,業及惱一切無盡。願今禮佛,發願,修持功德回施有情,四恩總報,三有齊資,法界眾生同 圓種智。
Dịch nghĩa:
Sau đó con vẫn không trái với hạnh nguyện ở cõi Cực lạc mà vẫn trở lại cõi Ta bà, phân thân thành vô số ở các cõi nước trong mười phương, vận dụng thần lực tự tại bất khả tư nghị và bằng mọi phương tiện hóa độ chúng sinh đều được giải thoát, đều lìa xa trần cấu, thấy lại bản tâm thanh tịnh, cùng sinh về nước Cực lạc, đều bước vào quả vị bất thối chuyển. Đại nguyện như vậy, thế giới vô biên, chúng sinh vô tận, nghiệp lực vô tận, phiền não vô tận, nguyện con cũng vô tận. Nguyện đem công đức lễ Phật, phát nguyện, tu tập thiện pháp, trì niệm hồng danh hôm nay hồi hướng cho hết thảy hữu tình, để báo đáp bốn ân, cứu giúp ba cõi. Nguyện cầu tất cả chúng sinh trong pháp giới đều trọn thành Phật đạo.
Bài đọc thêm 1:
SÁM NHỨT TÂM.
Từ Vân đại sư tạo.
Chánh văn:
一心歸命極樂世界阿彌陀,願以淨光照我,慈誓攝我,我今正念,稱如來名,為菩提道,求生淨土。佛昔本誓,若有眾生欲生我國,至心信樂,稱我名號,乃至十念,若不生者,不手正覺。以此念佛人緣,得入如來大誓海中,承佛慈力,眾罪消滅,善根增長。若臨欲命終,預知時至,身無病苦,心不貪戀,意不顛倒,如入禪定。佛及聖眾手執金臺,來迎接我,於一念頃,生極樂國,華開見佛,即聞佛乘,頓開佛慧 ,廣土眾生 ,滿菩提願。
Dịch nghĩa:
SÁM NHỨT TÂM
Nguyên tác: Từ Vân pháp sư.
Một lòng quy kính Phật A Di Đà thế giới Cực lạc, nguyện lấy hào quang trong sạch soi cho, lấy thệ từ bi mà nhiếp thọ cho, con nay chánh niệm, niệm hiệu Như Lai, vì đạo bồ đề, cầu sinh tịnh độ. Phật xưa có thệ, nếu có chúng sinh muốn sinh nước ta, hết lòng tín nguyện cho đến mười niệm, nếu chẳng đặng sinh, chẳng thành chánh giác. Do vì nhân duyên niệm hiệu Phật này được vào trong bể đại thệ Như Lai, nhờ sức từ bi, chúng tội tiêu diệt, căn lành tăng trưởng. Khi mạng gần chung, biết trước giờ chết, thân không bệnh khổ, tâm không tham luyến, ý không điên đảo, như vào thiền định, Phật và thánh chúng tay nâng kim đài cùng đến tiếp dẫn, trong khoảng một niệm sinh về Cực lạc, hoa nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa, chóng mở Phật huệ, khắp độ chúng sinh trọn bồ đề nguyện.
(theo bản dịch trong kinh Nhật tụng)
Bài đọc thêm 2:
Chúc nguyện hộ pháp.
Chánh văn:
天阿須羅夜叉等
來聽法者應至心
擁護佛法使長存
各各勤行世尊教
諸有聽徒來至此
或在地上或虛空
常於人世起慈心
晝夜自身依法住
願諸世界常安穩
無邊福智益群生
所有罪業並消除
遠離眾苦歸圓寂
恆用戒香涂瑩體
常持定服以資身
菩提妙華遍莊嚴
隨所住處常安樂。
Dịch nghĩa:
Chư thiên, a tu la,
Và dược xoa vân vân,
Ai đến nghe Phật pháp,
Tất cả hãy hết lòng,
Hộ trì Phật pháp ấy,
Làm cho trường tồn mãi,
Bằng cách thường tinh tấn,
Thực hành lời Phật dạy,
Những người nghe Phật pháp,
Cùng nhau đến nơi đây,
Hoặc ở trên mặt đất,
Hoặc ở trong không gian,
Với thế giới loài người,
Hãy thường hành từ tâm,
Bản thân thì ngày đêm,
Sống đúng với Phật pháp,
Nguyện cầu mọi thế giới,
Luôn luôn được yên ổn,
Bằng cách phước và trí,
Đều đem làm lợi người,
Để bao nhiêu vọng nghiệp,
Đều được tiêu tan cả,
Siêu thoát mọi khổ đau,
Quy về đại niết bàn.
Hãy xoa khắp cơ thể,
Bằng hương liệu tịnh giới,
Lại mặc cho cơ thể,
Bằng y phục thiền định,
Rồi trang điểm cõi người,
Bằng bông hoa tuệ giác,
Thì bất cứ ở đâu,
Cũng thường được an lạc.
(Hòa Thượng Trí Quang dịch)
D. BỎ THỜI KHÓA CÔNG PHU TRỞ THÀNH LƯỜI BIẾNG.
Người tu theo Thiền tông giờ nào cũng là giờ tu, hành động nào cũng là hành động tu, hằng chiếu soi tâm niệm mình không chút sơ hở. Nếu được như thế, thời khóa công phu đặt với người này trở thành vô nghĩa. Đợi đến thời khóa mới tu sao? Ngoài thời khóa ấy làm gì? Quả thật chỗ thiết yếu là tu từng tâm niệm. Nhưng cũng có một số người lười nhác, không thể hằng quán chiếu từng tâm niệm ở nội tâm, mà đặt thời khóa tu hành họ lại chống đối. Họ bảo rằng người tu thiền giữ hình thức ấy làm gì? Giờ nào không phải là giờ tu mà đặt thời khóa? Thế nhưng, không có thời khóa, thì họ thả rong con khỉ ý thức chạy nhảy tứ tung, chẳng có phút giây an tĩnh. Lợi dụng sự không nặng thời khóa của người chân tu, họ mặc tình vui chơi lười biếng. Muốn trị bệnh này, người tu thiền cần phải khắc kỷ, nỗ lực tiến tu, nếu thấy tâm mình lơi lỏng liền phải thu nhiếp, phát thệ nguyện mạnh mẽ để sách tiến mình. Hằng phát nguyện tinh tấn là phương thuốc trị lành bệnh này.
Tóm lại, người tu thiền mắc bệnh tự tôn phải dùng lễ Phật sám hối để trị, người mắc bệnh phóng túng dùng giới luật để trị, người mắc bệnh nói nhiều dùng ít nói im lặng để trị, người mắc bệnh lười biếng dùng tinh tấn để trị. Người tu biết mình có bệnh, khéo dùng thuốc điều trị thì bệnh được lành, trên đường tiến đạo sẽ không thối chuyển. Ngược lại, có bệnh mà không biết, hoặc biết mà không chịu điều trị, chắc chắn người ấy sẽ bỏ cuộc nửa đường, có khi phải sa đọa là khác.
